CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN 1. Các khái niệm cơ bản của quản lý nhà nước về dịch vụ công, dịch vụ công trực tuyến 1. Khái niệm quản lý nhà nước về dịch vụ công, dịch vụ công trực tuyến • Dịch vụ công Khái niệm về dịch vụ công có thể hiểu là: "Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ trực tiếp các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và người dân do Nhà nước đảm nhận hay ủy quyền cho các cơ sở ngoài Nhà nước thực hiện nhằm đảm bảo trật tự và công bằng xã hội".35] Theo Đinh Văn Ân và Hoàng Thu Hòa (2006) “Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yểu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện”.12] • Dịch vụ công trực tuyến Theo Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/06/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và DVCTT trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước, DVCTT được định nghĩa: “Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng”.
• Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước được hiểu là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Trên thực tế, QLNN thường được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng, QLNN là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp; nghĩa hẹp, QLNN chỉ bao gồm hoạt động hành pháp.5] 7 Bên cạnh đó, với chức năng quản lý Nhà nước phải thực hiện vai trò quản lý và điều tiết xã hội nói chung, trong đó có vấn đề DVC. Nhà nước bằng quyền lực của mình, dựa trên các công cụ quản lý vĩ mô như pháp luật, quy định, chính sách, để quản lý và điều tiết cung ứng DVC, qua đó làm tăng hiệu quả cung ứng DVC trong toàn xã hội.9] • Quản lý nhà nước về dịch vụ công trực tuyến Quản lý nhà nước đối với DVC là sự tác động mang tính tổ chức và quyền lực của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền lên các quan hệ xã hội trong lĩnh vực cung ứng các DVC hoàn thành mục tiêu đã được xác định. Nhà nước với chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế sẽ trực tiếp cung ứng DVC thông qua các tổ chức, cơ quan do Nhà nước lập ra.
[10] Khái niệm "quản lý nhà nước" trong ngữ cảnh của DVCTT đề cập đến việc áp dụng CNTT và các công cụ kỹ thuật số để quản lý và cung cấp các dịch vụ và tiện ích công cộng cho người dân và doanh nghiệp từ phía chính quyền bằng quyền lực pháp luật nhằm điều chỉnh, kiểm soát đảm bảo việc cung cấp các dịch vụ hành chính công cho người dân, tổ chức trên môi trường mạng internet một cách kịp thời, thuận tiện, an toàn. Mục đích của QLNN về DVCTT là nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN, minh bạch thông tin, tiết kiệm chi phí, thời gian cho các bên liên quan. Cụ thể, QLNN trong lĩnh vực DCVTT bao gồm việc thiết lập và quản lý hệ thống các nền tảng ứng dụng công nghệ một cách hiệu quả và tiện lợi. Đồng thời, QLNN cũng bao gồm việc xây dựng và thực hiện các quy định, chính sách và quy trình quản lý để đảm bảo tính minh bạch, minh bạch và hiệu quả trong việc cung cấp dịch vụ và tương tác với công dân và doanh nghiệp.
QLNN về DVCTT là dịch vụ hành chính công được thực hiện trên môi trường mạng máy tính. Do đó, nó mang đầy đủ các đặc điểm của dịch vụ hành chính công. Tuy nhiên, do thực hiện trên môi trường mạng nên DVCTT cũng có những đặc điểm khác với dịch vụ hành chính công thông thường: - Tính công khai, minh bạch: Người dân có thể dễ dàng tra cứu các thông tin về DVC như quy trình, thủ tục, lệ phí và theo dõi tình trạng hồ sơ và kết quả xử lý 8 được công khai trên các trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước. Cũng nhờ đó, cơ quan nhà nước có thể đánh giá hiệu quả công việc và trách nhiệm của từng đơn vị.
- Ít bị ảnh hưởng về mặt không gian: Nếu như ở nền hành chính truyền thống, công dân chỉ có thể đến trụ sở các cơ quan nhà nước để thực hiện TTHC, thì đối với DVCTT mọi cá nhân và tổ chức có thể thực hiện các TTHC ở bất kỳ đâu, miễn là nơi đó có thiết bị kết nối với mạng Internet. - Không hạn chế về thời gian: Trên lý thuyết, DVCTT có thể được cung cấp mọi lúc (24/7), không phụ thuộc vào các ngày nghỉ, ngày lễ và giờ làm việc theo quy định của các cơ quan nhà nước. Theo đó, cũng giảm số lần giao dịch trực tiếp giữa cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) thực hiện hoạt động DVC cho công dân. - Người sử dụng dịch vụ phải có những điều kiện nhất định: người dân phải có thiết bị như máy tính, điện thoại thông minh,.
kết nối được với mạng Internet, phải biết sử dụng mạng Internet, cũng như thao tác trên các website, các trang hệ thống chuyên dụng,. - Mang tính liên ngành cao: Hệ thống DVCTT kết nối liên thông với các cơ quan, đơn vị khác nhau, giúp xử lý các thủ tục liên ngành một cách nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chia sẻ dữ liệu và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước. Quy trình cung ứng của hệ thống dịch vụ công trực tuyến Hiện nay, các cơ quan nhà nước đang tích cực đẩy mạnh và nhân rộng quá trình triển khai ứng dụng DVCTT mức độ cao (mức độ 3 và 4). Sơ đồ dưới đây mô tả tổng quát quá trình tương tác giữa người dân/doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước trên nền tảng hệ thống DVCTT.
Sơ đồ tổng quát quy trình triển khai cung ứng dịch vụ công trực tuyến mức độ cao Để đảm bảo quy trình được diễn ra thông suốt, hiệu quả từng đối tượng trong quy trình sẽ có chức năng và nhiệm vụ như sau: [13] Bảng 1. Phân công chức năng, nhiệm vụ cho các đối tượng trong quy trình cung ứng dịch vụ công trực tuyến mức độ cao Đối tượng Chức năng Nhiệm vụ Công dân, Là những thành viên có nhu cầu Tạo tài khoản và đăng ký hồ sơ; theo tổ chức sử dụng DVC được cung cấp dõi trạng thái xử lý; điều chỉnh, bổ trên môi trường mạng. sung hồ sơ khi được yêu cầu. Bộ phận Là nơi tiếp nhận và trả hồ sơ Nhận và kiểm định ban đầu về hồ một cửa sau khi đã giải quyết tại cơ quan sơ, ghi biên nhận; lập phiếu chuyển, thụ lý.
chuyển giao hồ sơ cho các phòng, ban chuyên môn xử lý; nhận lại hồ sơ đã được giải quyết; trả hồ sơ cho cá nhân, đại diện tổ chức. 10 Bộ phận Là đơn vị trực tiếp giải quyết Tiếp nhận hồ sơ từ bộ phận một cửa; chuyên các hồ sơ do bộ phận một cửa xem xét, giải quyết hồ sơ; in các loại môn tiếp nhận. giấy tờ liên quan (giấy chứng nhận, giấy phép…). Sau khi được lãnh đạo cấp trên phê duyệt và ký; giao trả hồ sơ đã giải quyết cho bộ phận một cửa.
Lãnh đạo Chịu trách nhiệm xem xét, phê Xem xét, duyệt và ký các giấy tờ từ duyệt và ký các giấy tờ liên phòng, ban chuyên gửi lên. quan (giấy chứng nhận, giấy phép)… cho hồ sơ của các cá nhân, tổ chức. Nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ công trực tuyến 1. Ban hành các chính sách, văn bản pháp luật về quản lý dịch vụ công trực tuyến Tại Việt Nam, chính sách về DCVTT có nhưng chưa hoàn thiện, được thể hiện dưới dạng công cụ là các văn bản pháp luật rời rạc, nội dung chủ yếu nhấn mạnh đến nâng cao phát triển CNTT trong hoạt động QLNN.
Các CSDL mới chỉ mang tính chất nền tảng thông tin, như: CSDL quốc gia về bảo hiểm; CSDL về quốc gia đất đai; CSDL quốc gia về đăng ký doanh nghiệp; CSDL quốc gia về dân cư vẫn đang được xây dựng và một số cấu phần đi vào vận hành. [1] Nhìn nhận từ góc độ pháp luật, đây được xem là công cụ quyền lực, hướng dẫn và điều phối hoạt động thông qua việc xác lập quyền và nghĩa vụ cơ bản của chủ thể tham gia vào mối quan hệ xã hội. Do đó, việc xây dựng pháp luật để triển khai DCVTT đang chịu ảnh hưởng từ quyết định chính sách về DCVTT. Quá trình này cần đảm bảo rằng DVCTT phải được thiết kế để phục vụ trực tiếp cho người sử dụng cuối cùng và tiến triển theo hướng đáp ứng nhu cầu của họ.
Điều này sẽ giúp tăng 11 cường hiệu quả và hiệu lực của Chính phủ trong việc thực hiện nhiệm vụ phục vụ cộng đồng. Các cơ quan có thẩm quyền ban hành các chính sách, văn bản pháp luật về quản lý DVCTT bao gồm: - Chính phủ: Ban hành các nghị định, quyết định, chiến lược và chính sách tổng thể về DVCTT. Văn phòng Chính phủ hướng dẫn rà soát, đánh giá TTHC phù hợp theo các mức độ quy định tại Nghị định 42/2022/NĐ-CP. - Bộ Thông tin và Truyền thông: Là cơ quan chủ trì trong việc xây dựng và ban hành các quy định, hướng dẫn kỹ thuật về DVCTT, bảo mật thông tin và hạ tầng công nghệ.
hướng dẫn tiêu chí kỹ thuật để đánh giá, xếp loại mức độ của DVCTT; hướng dẫn, quy định kỹ thuật về tích hợp chữ ký số hoặc ứng dụng ký số trên Cổng Dịch vụ công. - Bộ Nội vụ: Đề xuất và ban hành các chính sách liên quan đến CCHC, trong đó có DVCTT, để nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước. - Các bộ, ngành khác: Xây dựng các văn bản pháp luật liên quan đến DVCTT trong phạm vi quản lý của mình, đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả. - UBND cấp tỉnh, thành phố: Ban hành các quy định cụ thể và hướng dẫn triển khai DVCTT phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.