Chương I Công ước quốc tế về quy chế của người không quốc tịch (Stateless person) được thông qua tại New York ngày 28/9/1954 thì “Người không quốc tịch là người không được bất kỳ quốc gia nào coi là công dân nước mình theo quy định của luật pháp nước đó” (Article 1. For the purpose of this Convention, the term “stateless person” means a person who is not considered as a nationality by any State under the operation of its law) [11]. Một người không có quốc tịch bởi 10 vì họ không phải công dân nước mà họ đang sinh sống (hoặc công dân của bất kỳ nước nào khác), nên các quyền con người cơ bản của họ thường bị bác bỏ như quyền bầu cử, quyền được làm việc, quyền được mua hoặc thuê nhà, quyền được học hành, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được bảo hiểm xã hội và hưu trí. Người không quốc tịch không được sở hữu bất động sản, không được mở tài khoản ngân hàng, không được kết hôn hợp pháp hoặc đăng ký khai sinh cho con cái, cũng không thể đi nước ngoài vì không có hộ chiếu.
Vì vậy, nhiều người không quốc tịch đã trở thành người nhập cư bất hợp pháp ở bất cứ nước nào họ đến; họ phải đối diện với việc giam giữ kéo dài hoặc vô thời hạn hoặc bị đẩy đi, đẩy lại giữa các quốc gia do không thể chứng minh được bản thân là ai và từ đâu đến. Nói về tình trạng không quốc tịch, ngài António Guterres – Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (nay là Tổng Thư ký Liên hợp quốc từ ngày 01/01/2017) nhận định: “Đây là điều tồi tệ nhất xảy ra đối với nhân loại. Nghĩa là bạn không phải là thực thể, bạn không tồn tại, bạn không được chu cấp gì hết, bạn chẳng được coi là gì”. Người không quốc tịch đang sống trong ác mộng bị quên lãng một cách bất hợp pháp, khiến họ bị loại ra khỏi cuộc sống của loài người trên thế giới.
Nếu không giải quyết và ngăn chặn tình trạng này thì nó sẽ kéo dài mãi mãi, vì cha mẹ không quốc tịch sẽ không thể chuyển quốc tịch cho con cái họ. Ngoài sự nghèo khổ sẽ tiếp tục đến với người không quốc tịch, hậu quả cuộc sống bên lề xã hội sẽ tạo ra bức xúc xã hội và có thể trở thành nguồn gốc của sự xung đột. Khái niệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc tịch, quản lý nhà nước đối với người không quốc tịch - Khái niệm về quản lý nhà nước: Quản lý là sự tác động lên một hệ thống nào đó với mục tiêu đưa hệ thống đó đến trạng thái cần đạt được. Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động.
“Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành trên quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung. Một nhạc công tự điều khiển mình nhưng một dàn nhạc cần phải có nhạc trưởng” [21, T. 11 Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập, hành pháp và tư pháp. Hay nói cách khác, quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước.
Đây là một hoạt động gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước. Quản lý nhà nước ra đời với tính chất là loại hoạt động quản lý xã hội. Quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước. Quản lý nhà nước cũng là sản phẩm của việc phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý.
- Khái niệm về quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc tịch: là việc các cơ quan quản lý nhà nước áp dụng các chính sách, pháp luật tác động lên các đối tượng có liên quan nhằm điều chỉnh, thực hiện việc bảo hộ công dân của quốc gia mình cũng như làm thay đổi quốc tịch và thay đổi sự bảo hộ của nhà nước tới cá nhân đang mang quốc tịch của quốc gia đó. Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định về quyền đối với quốc tịch như sau: “1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch. Công dân Việt Nam không bị tước quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại Điều 31 Luật này.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, mọi thành viên của các dân tộc đều bình đẳng về quyền có quốc tịch Việt Nam” [15, Điều 2]. Như vậy, dù không có quy định rõ ràng về việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc tịch nhưng quy định nêu trên đã thể hiện khái quát chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực quốc tịch, đặc biệt là việc bảo hộ của Nhà nước đối với công dân Việt Nam, đồng thời thể hiện quan điểm chính trị về vấn đề chủ quyền, lãnh thổ của Nhà nước Việt Nam thông qua quốc tịch của một cá nhân. - Khái niệm quản lý nhà nước đối với người không quốc tịch: Dưới góc độ hình thức, quản lý nhà nước đối với người không quốc tịch có thể được hiểu là quá trình các cơ quan nhà nước sử dụng quyền lực của mình tác động có tổ chức và 12 điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình theo dõi, quản lý đối với người không quốc tịch cũng như các hoạt động của họ với nguyên tắc nhất định nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Dưới góc độ nội dung, quản lý nhà nước đối với người không quốc tịch bao gồm nhiều hoạt động, như ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về không quốc tịch nói chung (nằm trong các quy định về quốc tịch); ban hành các văn bản phối hợp thi hành liên quan đến việc quản lý nhà nước đối với những nhóm người không quốc tịch có đặc trưng riêng; tổ chức thực hiện các văn bản này; tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về quốc tịch; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức, viên chức làm công tác quốc tịch; chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ về giải quyết vấn đề quốc tịch và những vấn đề phát sinh sau khi xác định được quốc tịch cho những người không quốc tịch (như vấn đề an ninh, quốc phòng, hộ tịch, an sinh xã hội,.
Trên cơ sở những nhận định trên, có thể đưa ra khái niệm cơ bản về quản lý nhà nước đối với người không quốc tịch là quá trình các cơ quan có thẩm quyền thực hiện các hoạt động, biện pháp hành chính nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình theo dõi, quản lý đối với người không quốc tịch cũng như các hoạt động của họ nguyên tắc nhất định nhằm đạt được mục tiêu của quản lý nhà nước về công tác quốc tịch, đảm bảo hạn chế và ngăn chặn tình trạng không quốc tịch đang tồn tại ở Việt Nam phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế về người không quốc tịch. Chủ thể, nội dung và các hình thức quản lý nhà nước đối với người không quốc tịch 1. Chủ thể Chủ thể của quản lý nhà nước là Nhà nước, thông qua các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức của nhà nước. Hay có thể hiểu chủ thể của quản lý nhà nước là các tổ chức hoặc cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước.
Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, công chức trong bộ máy nhà nước được nhà nước ủy quyền thực hiện quyền quản lý nhà nước trong một lĩnh vực nào đó [24]. Vì vậy, chủ thể của quản lý nhà nước đối với người không quốc tịch chính là hệ thống các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa 13 phương được ủy quyền thực hiện chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm quản lý trong lĩnh vực này. Cụ thể, ở Trung ương gồm: Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng,. và ở địa phương là UBND cấp tỉnh.
Các cơ quan quản lý nhà nước đối với người không quốc tịch có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các hoạt động quản lý phù hợp với phạm vi, lĩnh vực và thẩm quyền của mình nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả các quy định pháp luật về quốc tịch. Theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 – đạo luật duy nhất có hiệu lực tại Việt Nam liên quan đến lĩnh vực quốc tịch thời điểm này, tại Chương V Trách nhiệm của cơ quan nhà nước về quốc tịch quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương trong lĩnh vực quốc tịch, bao gồm cả quản lý nhà nước đối với người không quốc tịch. Cụ thể là: Điều 38 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước về quốc tịch, Điều 39 quy định về trách nhiệm của Chính phủ về quốc tịch và Điều 40 quy định về trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài về quốc tịch. Như vậy, các cơ quan thực hiện việc quản lý nhà nước đối với người không quốc tịch là Chủ tịch nước, Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao (cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Ủy ban nhà nước về người Việt Nam, Ủy ban biên giới quốc gia), Bộ Quốc phòng (Bộ Tư lệnh bộ đội biên phòng), Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,.
Trách nhiệm và thẩm quyền của các cơ quan nêu trên đã được thể hiện tương đối đầy đủ trong các quy định pháp luật, gồm cả trách nhiệm, thẩm quyền theo lĩnh vực của mình và cơ chế phối hợp với giữa các bộ, ngành có liên quan với nhau. Theo các quy định này, các cơ quan sẽ chủ động thực hiện trách nhiệm của mình và có sự trao đổi, thông tin cũng như đề nghị các cơ quan hữu quan cùng thực hiện nhiệm vụ quản lý.