Chương I của Luật quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 ngày 17/6/2009 quy định: Cảnh quan đô thị là không gian cụ thể có nhiều hướng quan sát ở trong đô thị như không gian trước tổ hợp kiến trúc, quảng trường, đường phố, hè, đường đi bộ, công viên, thảm thực vật, vườn cây, vườn hoa, đồi, núi, gò đất, đảo, cù lao, triền đất tự nhiên, dải đất ven bờ biển, mặt hồ, mặt sông, kênh, rạch trong đô thị và không gian sử dụng chung thuộc đô thị. Ngoài ra, theo Wikipedia.org: Cảnh quan đô thị là khung cảnh bao gồm các thành phần của một hệ sinh thái cùng tồn tại liên kết, xắp xếp và tương tác với nhau trong một không gian nhất định của một đô thị và khung cảnh đó cũng được xem xét với quang cảnh chung quanh rộng lớn hơn. Hệ sinh thái ở đây là hệ sinh thái nhân tạo, do con người tác động vào, cải tạo hoặc hoàn toàn tạo dựng nhằm đáp ứng những nhu cầu cuộc sống của con người.2 Vai trò của cảnh quan đô thị Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, không gian đô thị ngày càng trở lên chật chội, nhu cầu tận hưởng cuộc sống của con người ngày càng cao, việc tạo dựng một không gian đẹp, một môi trường có chất lượng sống tốt cho dân cư đô thị luôn được quan tâm, ưu tiên hàng đầu vì một số yếu tố trong cảnh quan đô thị như: cây xanh, mặt nước chính là các nhân tố giúp cho môi trường khí hậu luôn trong sạch, điều hòa vi khí hậu, cân bằng môi trường sống của con người. Ngoài ra, cảnh quan đô thị góp phần tôn vinh vẻ đẹp của các công trình kiến trúc, điểm nhấn đặc trưng của đô thị, kích thích thị giác của con người, tạo sức hút, sự hấp dẫn cho đô thị.3 Đặc điểm của cảnh quan đô thị Là đặc trưng (characteristic), bản sắc (identity) hay ý nghĩa của nơi chốn (sense of place).
Nói một cách khác, “nơi chốn” chỉ một bối cảnh được mường tượng ra, trong đó có các sự kiện, các đối tượng và các hoạt động. Nơi chốn gồm cả những yếu tố tự nhiên và những yếu tố nhân tạo. Nó là một tổng thể gồm những yếu tố rất cụ thể như vật chất, vật liệu, hình dạng, kết cấu, màu sắc và không gian – tất cả quyết định đặc điểm và tinh chất của nơi chốn ấy. Cụ thể, cảnh quan đô thị gồm các yếu tố như: công trình điểm nhấn, vỉa hè, công viên, vườn hoa, cây xanh, màu sắc,.những yếu tố này tạo nên đặc điểm nhận dạng đô thị và tính chất của đô thị ấy.2 Khái niệm, vai trò, nguyên tắc quản lý nhà nước về cảnh quan đô thị 1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về cảnh quan đô thị Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật.
Quản lý là sự kết hợp giữa trí tuệ và lao động, bởi vì ba nhân tố có tính chất quyết định sự thành bại, phát triển của một công việc, một chế độ xã hội là trí lực, sức lao động và quản lý, trong đó quản lý là sự chi phối, kết hợp giữa sức lao động và trí thức. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể, định hướng, điều hành, chi phối,…để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Quản lý nhà nước là sự quản lý xã hội bằng quyền lưc nhà nước, ý chí nhà nước, thông qua bộ máy nhà nước làm thành hệ thống tổ chức điều khiển quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, theo những thời gian nhất định với hiệu quả cao. [1] Như vậy, quản lý nhà nước về cảnh quan đô thị là các hoạt động bằng quyền lực nhà nước nhằm tác động vào công tác quy hoạch, hoạch định các chương trình phát triển và duy trì các hoạt dộng đó để đạt được các mục tiêu phát triển của chính quyền.
Là sự can thiệp bằng quyền lực của chính quyền vào các khâu trong quá trình phát triển của đô thị, như can thiệp vào các giai đoạn lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý của quy hoạch đô thị, quy hoạch cảnh quan đô thị.2 Vai trò quản lý nhà nước về cảnh quan đô thị Vai trò quản lý nhà nước là định hướng phát triển, cụ thể hóa bằng chiến lược kế hoạch thông qua xây dựng, ban hành, thực thi và bảo vệ hiến pháp, pháp luật, hỗ trợ phát triển đi đúng hướng bằng pháp lý. [2] Vai trò quản lý nhà nước về cảnh quan đô thị là duy trì, điều khiển mọi hoạt động của nhà nước về lĩnh vực cảnh quan đô thị thông qua hệ thống các văn bản pháp quy, quy định, quy phạm đồng thời thực hiện nhiệm vụ cụ thể của cơ quan quản lý nhà nước, chịu sự điều hành, điều phối của cơ quan quản lý cấp trên.3 Nguyên tắc quản lý nhà nước về cảnh quan đô thị. Nguyên tắc quản lý nhà nước - Nguyên tắc quản lý nhà nước là những tư tưởng chỉ đạo, tiêu chuẩn hành vi mà hoạt động quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước phải tuân thủ trong quá trình quản lý. Nguyên tắc quản lý do chủ quan của con người đặt ra nhưng phải trên cơ sở phù hợp với yêu cầu của các quy luật khách quan và phải hướng tới thực hiện các mục tiêu quản lý.
Trong quản lý nói chung cũng như quản lý nhà nước nói riêng, có nhiều nguyên tắc quản lý và giữa các nguyên tắc đều có quan hệ chặt chẽ với nhau, nằm trong một hệ thống nhất. - Các nguyên tắc cơ bản gồm: Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của chính đảng cầm quyền; Nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phân cấp và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực đó; Nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của người dân vào sự quản lý nhà nước. Nguyên tắc quản lý nhà nước về cảnh quan đô thị Nguyên tắc quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị quy định tại Điều 3 Nghị định 38/2010/NĐ-CP về quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị như sau: - Chính phủ thống nhất quản lý và phân cấp quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị. Ủy ban nhân dân thành phố, thị xã, thị trấn (sau đây gọi là chính quyền đô thị) quản lý toàn diện không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị trong phạm vi địa giới hành chính do mình quản lý.
Cơ quan có chức năng quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị ở 6 địa phương có trách nhiệm giúp chính quyền đô thị quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị. - Việc quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị phải tuân thủ theo quy hoạch đô thị, thiết kế đô thị và quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị. Đối với những khu vực đô thị, tuyến phố chưa có quy hoạch chi tiết, thiết kế đô thị, quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị thì thực hiện việc quản lý theo quy chuẩn, tiêu chuẩn về quy hoạch xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và phải phù hợp với các quy định trong Nghị định này. - Đảm bảo tính thống nhất trong việc quản lý từ không gian tổng thể đô thị đến không gian cụ thể thuộc đô thị; phải có tính kế thừa kiến trúc, cảnh quan đô thị và phù hợp với điều kiện, đặc điểm tự nhiên, đồng thời tôn trọng tập quán, văn hoá địa phương; phát huy các giá trị truyền thống để gìn giữ bản sắc của từng vùng, miền trong kiến trúc, cảnh quan đô thị.
- Việc quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị phải căn cứ vào quy hoạch, thiết kế đô thị được cấp có thẩm quyền duyệt và phải được chính quyền đô thị quy định cụ thể bằng Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị.2 Quản lý nhà nước về cảnh quan đô thị tại Việt Nam 1.1 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về cảnh quan đô thị Trong thời kỳ đổi mới đất nước, các chính sách đổi mới, hội nhập cùng với sự phát triển nhanh về các mặt kinh tế - xã hội, hệ thống các đô thị ở nước ta đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng, chất lượng và quy mô. Hiện tại Việt Nam có tổng số là 174 đô thị lớn nhỏ, trong đó: có 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, 17 đô thị loại I, 25 đô thị loại II, 45 đô thị loại III, 87 đô thị loại IV. Khoảng 38% dân số Việt Nam sống ở đô thị. [4] Mức độ đô thị hóa đang tăng lên nhanh chóng ở Việt Nam góp phần làm cho bộ mặt đô thị có nhiều khởi sắc theo hướng văn minh, hiện đại, góp phần giải quyết nhiều vấn đề bức xúc của các đô thị hiện nay, nhất là vấn đề nhà ở và các dịch vụ đô thị.
Tuy nhiên, quá trình đô thị hoá mang lại nhiều hiệu quả tích cực song cũng tồn tại một số 7 vấn đề làm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển các đô thị như: việc quản lý, sử dụng đất đai trong đô thị không hợp lý gây lãng phí tài nguyên đất, tình trạng ô nhiễm môi trường đô thị, các vấn đề về nhà ở, giao thông đô thị gây nhiều bức xúc, kiến trúc đô thị chắp vá thiếu bản sắc, cảnh quan bị tàn phá. Công tác quy hoạch và quản lý đô thị theo quy hoạch còn nhiều bất cập. Đặc biệt, với các đô thị phát triển nóng thì việc quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị lại càng khó khăn hơn. Các đô thị tại Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn và chịu ảnh hưởng sâu sắc của sự bùng nổ đô thị trên mọi phương diện, đặc biệt là công tác quản lý phát triển đô thị.
Chính quyền đô thị tại hầu hết các đô thị Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức của quá trình đô thị hóa nhanh, cụ thể là: Sự phát triển mất cân đối; Sự phát triển thiếu bền vững;…Sự bùng nổ về dân số ở các đô thị dẫn đến quá tải về cơ sở hạ tầng, các công trình xây dựng mọc lên ồ ạt nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội trong một thời gian ngắn dẫn đến tình trạng cảnh quan đô thị không được kiểm soát tốt và công tác quản lý nhà nước cũng gặp khó khăn.