CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QLNN ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Các nghiên cứu về chủ đề KCN, KCX, KKT… tương đối nhiều và phong phú, được thực hiên ngay từ năm cuối 90s của thế kỷ XX khi mô hình này bắt đầu hình thành và phát triển ở Việt Nam. Mặc dầu vậy, sau quá trình thu thập tài liệu, tác giả luận án nhận thấy rằng khía cạnh về QLNN đối với các KCN, KKT… lại là một đề tài tương đối mới, chưa có nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Các công trình khoa học liên quan trực tiếp nếu có, cũng chỉ phần lớn là đưa ra các giải pháp về thúc đẩy sự phát triển và hiệu quả hoạt động của các KCN mà thôi.
Dưới đây, luận án tổng hợp lại các tư liệu, tài liệu đã được công bố trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây có liên quan đến đề tài luận án. Về cơ bản, các tư liệu này tập trung vào 3 nhóm vấn đề sau: (1) Các công trình nghiên cứu về sự hình thành và phát triển, vai trò và tác động của KCN, KCX, KKT (2) Các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững nói chung và phát triển bền vững trong KCN nói riêng (3) Các công trình nghiên cứu về vai trò của Nhà nước đối với phát triển KCN, QLNN đối với các KCN theo các chức năng quản lý và các lĩnh vực quản lý Trên cơ sở các tư liệu đã tập hợp, NCS khái quát các nội dung có liên quan đến luận án, đánh giá những điểm thành công cũng như những hạn chế còn tồn tại trong các công trình đó, để từ đó chỉ ra những điểm khác biệt, những khoảng trống trong nghiên cứu nhằm xác định hướng nghiên cứu mới của luận án này. Các công trình nghiên cứu về sự hình thành, phát triển, vai trò và tác động của khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế Công trình nghiên cứu Lessons for South Asia from the Industrial cluster development experience of the Republic of Korea (8/2015) (Kinh nghiệm phát triển các KCN của Hàn Quốc và bài học cho các nước Nam Á) – 12 Jong il Kim – ADB South Asia working paper. Nghiên cứu này đã trình bày về chính sách phát triển KCN ở Hàn Quốc, tóm tắt lại các chính sách công nghiệp của nước này từ những năm 60s và chỉ ra những yếu tố dẫn tới thành công và tác động đến quá trình phát triển KCN ở Hàn Quốc.
Đó là chính sách thúc đẩy xây dựng các công viên công nghiệp trên những cánh đồng từ những năm 1960-1970. Sự chuyển mình sang một cơ cấu kinh tế theo hướng các ngành công nghiệp tập trung vào công nghệ và tri thức đã thúc đẩy tiến bộ sáng tạo – đây là mối quan tâm hàng đầu của các chính sách; đồng thời xây dựng các cụm công nghiệp địa phương thúc đẩy sự hợp tác giữa sản xuất với nghiên cứu. Các tổ hợp công nghiệp lớn đã mở rộng không chỉ về mặt không gian sản xuất mà còn mở rộng các dịch vụ hỗ trợ cho doanh nghiệp địa phương. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra những bài học có giá trị có thể vận dụng vào phát triển KCN, CCN ở khu vực Nam Á như: Economic Corridor Program (Chương trình hành lang kinh tế) ở Ấn Độ.
Chính phủ Ấn Độ đã đặt mục tiêu sản xuất công nghiệp chiếm 45% GDP của nước này năm 2012 và tuyên bố thúc đẩy các ngành công nghiệp nhằm tối đa hóa mức độ hội nhập giữa các trung tâm kinh tế ở trong nước với khu vực và thế giới. Kinh nghiệm từ chính sách của Hàn Quốc cũng liên quan đến việc thúc đẩy xuất khẩu và mục tiêu hội nhập khu vực. [69] Tài liệu này đã cho tác giả luận án thấy được bức tranh toàn cảnh về chính sách công nghiệp nói chung và chính sách thúc đẩy phát triển các KCN nói riêng ở Hàn Quốc trong một thời gian dài, để cũng từ đó nghiên cứu vận dụng những bài học có ích cho Việt Nam. Cuốn sách Economic zones in the Asean (8/2015) (Các KKT ở Đông Nam Á) – United Nations, Industrial development organisation (UNIDO).
Tài liệu đề cập đến 5 loại hình của KKT nói chung bao gồm: KCN, KKT đặc biệt, khu công nghệ sinh học, KCNC và công viên sáng tạo). Các mô hình này đã thúc đẩy những chiến lược mang tính bước ngoặt cho sự phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Các chiến lược cạnh tranh của các quốc gia phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Song các KCN và KKT đặc biệt là công cụ để thúc đẩy chiến lược bắt kịp (catch-up strategy) ở các nước kém phát triển, trong khi các công viên sáng tạo sẽ đẩy mạnh tri thức và sáng tạo ở nước quốc gia đã phát triển.
Hầu hết các quốc gia trong khu vực ASEAN đã ứng dụng mô hình KKT một cách phổ biến. Nghiên cứu này thống kê cho thấy có hơn 1000 KKT ở các quốc gia ASEAN trong đó: 893 13 KCN, 84 KKT đặc biệt, 2 khu công nghệ sinh học, 25 KCNC và 1 công viên sáng tạo. Nghiên cứu này cũng đưa ra kết luận rằng, mỗi giai đoạn phát triển sẽ quyết định đến mô hình KKT thích hợp cũng như chiến lược cạnh tranh. Thực tế là, các nước hay khu vực nào có trình độ phát triển thấp sẽ vận dụng chiến lược “catch-up” bằng việc thu hút càng nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài càng tốt trong khi các quốc gia hay khu vực khác đạt được trình độ phát triển kinh tế cao hơn sẽ tập trung vào hoạt động sáng tạo và hướng về tri thức.
Từ những nghiên cứu đó, tài liệu đã chỉ ra rằng các nước ASEAN với mức độ phát triển khách nhau, do đó đã vận dụng những chiến lược khác nhau để tăng cường khả năng cạnh tranh. Chẳng hạn, Việt Nam chủ yếu dựa vào mô hình các KCN để thu hút FDI, Singapore thiết kế một khu vực phía Bắc Singapore – khu sáng tạo đầu tiên trong khu vực. Nghiên cứu này cũng đã đề xuất 3 gợi ý chính sách cho các nhà quản lý công và hoạch định chính sách: (1) cải tiến những KCN và KKT đặc biệt hiện nay thành các KCN sinh thái và KKT đặc biệt sinh thái; (2) thúc đẩy chuỗi giá trị bằng việc lập ra các khu/công viên sáng tạo ở các thành phố lớn; (3) thành lập một tổ chức phi lợi nhuận trong khu vực ASEAN – có thể lấy tên là Cơ quan KKT ASEAN (AEZA) có chức năng giám sát quá trình hoạt động và phát triển của các KKT trong khu vực. Tài liệu nghiên cứu này đã giúp cho tác giả luận án hình dung được bối cảnh cũng như quá trình phát triển mô hình KKT trong đó trọng tâm là các KCN trong các quốc gia ASEAN.
Từ đó, NCS thấy được xu hướng phát triển các KCN ở Việt Nam trong tương lai cần phải hướng đến hình thành các KCN sinh thái, thân thiện với môi trường. Đồng thời, để chuẩn bị các tiền đề cho việc hình thành một nền kinh tế tri thức, các KCN sau này cần trở thành các công viên sáng tạo, nhất là ở các thành phố lớn như Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh. Công trình nghiên cứu Development of Eco-efficient industrial parks in China: A review (3/2015) (Nhìn lại quá trình phát triển các KCN thân thiện với môi trường ở Trung Quốc) – Hubert Thieriot, Dave Sawyer – International Institute for Sustainable development. Nghiên cứu này được đặt ra trong bối cảnh ở Trung Quốc, khu vực công nghiệp chiếm khoảng 70% mức tiêu thụ năng lượng quốc gia và 72% lượng khí thải carbon.
Vì thế, khu vực công nghiệp có tầm quan trọng hàng đầu để nước này thực hiện mục tiêu giảm khí thải xuống còn 40-45% đến năm 2020. Để giải quyết tình trạng này, Chính phủ Trung Quốc đã xây dựng 3 chương trình thí điểm cho các KCN nước này bao 14 gồm: (1) Chương trình KCN sinh thái do Bộ Bảo vệ Môi trường thực hiện; (2) Chương trình Chuyển đổi tuần hoàn các KCN được dẫn đầu bởi Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia phối hợp với Bộ Tài chính; (3) Chương trình KCN khí carbon thấp thực hiện bởi Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin. Các chương trình này đặt mục tiêu tổng thể vừa cắt giảm những tác động xấu đến môi trường của ngành công nghiệp Trung quốc, đồng thời tăng cường năng lực cạnh tranh cho ngành. Các KCN trong chương trình này sẽ chuyển đổi mô hình thành các KCN sinh thái (EIPs).
Tài liệu nghiên cứu đã đưa ra một định nghĩa về EIP như sau: Là một cộng đồng các doanh nghiệp dịch vụ và sản xuất đang tìm kiếm hoạt động về kinh tế và môi trường bằng việc hợp tác với nhau cùng quản lý các vấn đề môi trường và tái chế vật liệu. Theo đó, các doanh nghiệp cùng chia sẻ lợi ích tập thể lớn hơn nhiều lợi ích của từng cá nhân nếu tối ưu hóa hoạt động của từng cá nhân. Sự hợp tác này thường được nhắc đến như quá trình cộng sinh trong công nghiệp, trong đó, có sự trao đổi nguyên vật liệu và sản phẩm, cũng như chia sẻ quản lý các vấn đề về nước, năng lượng và chất thải. [67] Rõ ràng đây là một hình thái của KCN khá mới mẻ và tiên tiến trong khu vực Châu Á mà các quốc gia như Việt Nam cũng đang phải đối mặt với vấn đề môi trường tương tự như Trung Quốc cần học tập.
Tuy vậy, mô hình này đã được hình thành từ rất lâu ở Châu Âu, đầu tiên xuất hiện ở Thụy Điển đầu những năm 70. Ở Mỹ, Úc và Nhật Bản, sự chuyển đổi hướng đến mô hình EIPs đã được sự hỗ trợ của chính phủ địa phương cũng như các cơ quan Nhà nước. So với quốc tế, các chương trình của Trung Quốc có một số đặc điểm khác biệt chẳng hạn như, áp dụng các tiêu chuẩn và thủ tục thống nhất, có quy mô lớn chưa từng thấy, tiếp cận từ trên xuống… Bài nghiên cứu China’s special economic zones and national industrial parks – Door openers to economic reform (Spring 2008) (Các đặc KKT và công viên công nghiệp quốc gia Trung Quốc – mở cánh cửa tiến đến cải cách kinh tế) – Leonard Sahling – Prologis Research Bulletin. Bài nghiên cứu này đề cập đến quá trình phát triển các KCN ở Trung Quốc từ năm 1978 – từ khi bắt đầu mở cửa nền kinh tế cho đến giai đoạn hiện nay.