Chương 1: Tổng quan về kinh tế học vi mô 8. Nếu một người ra quyết định bằng cách so sánh lợi ích cận biên và chi phí cận biên của sự lựa chọn người này phải: a. Chọn quyết định khi mà lợi ích cân biên lớn hơn chi phí cận biên b. Chọn khi mà lợi ích cân biên bằng với chi phí cân biên c.
Chọn khi mà lợi ích cận biên nhỏ hơn chi phí cận biên d. Cả a,b,c đều sai 9. Trong mô hình nền kinh tế hỗn hợp, các vấn đề kinh tế cơ bản được giải quyết. Thông qua kế hoạch hoá của Chính Phủ b.
Thông qua thị trường c. Thông qua thị trường và kế hoạch hoá của Chính Phủ d. Không câu nào đúng cả. Việc lựa chọn sản xuất tối ưu của doanh nghiệp là a.
Sử dụng hết nguồn lực b. Chọn phương án có mức sản lượng đầu ra lớn nhất c. Vừa đầu ra lớn nhất và vừa phải sử dụng hết nguồn lực d. Không phải các phương án ở trên.com https://fb.com/tailieudientucntt Chương 2: Lý thuyết cung – cầu CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT CUNG - CẦU GIỚI THIỆU Chương này giới thiệu những vấn đề cơ bản nhất của cơ chế hình thành giá cả trên thị trường.
Giá cả của hàng hoá chính là tín hiệu phối hợp các hoạt động của người tiêu dùng, người sản xuất. Theo một quan điểm chung nhất thị trường được hiểu là sự tương tác giữa cung và cầu. Trong một nền kinh tế thị trường tự do, các thành viên kinh tế phản ứng với giá do thị trường xác định. Giá có ý nghĩa quyết định đối với việc phân bổ các nguồn lực trong xã hội.
Lý thuyết cung cầu là một trong những nội dung quan trọng nhất của kinh tế học được xây dựng trên cơ sở của mô hình cung cầu. Thông qua mô hình cung cầu, một công cụ đơn giản nhưng rất hữu ích giúp chúng ta phân tích hành vi của người sản xuất và người tiêu dùng tác động qua lại với nhau trên thị trường. Mô hình cung cầu mô tả sự tương tác giữa người sản xuất và người tiêu dùng để xác định giá và sản lượng của hàng hoá hay dịch vụ được mua bán trên thị trường. Ngoài ra, mô hình cung cầu còn giúp chúng ta hiểu về tác động của nhiều chính sách của chính phủ như chính sách giá, chính sách thuế tới thị trường.
Khi học xong chương này người học cần phải nắm được: (1) Hiểu được khái niệm cung cầu (2) Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến cung và cầu thông qua mô hình cân bằng (3) Xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố tới cung và cầu thông qua hệ số co giãn của cung và cầu (4) vận dụng lý thuyết để làm các bài tập, các tình huống liên quan đến lý thuyết cung và cầu.1 LÝ THUYẾT VỀ CẦU (DEMAND) 2.1 Các khái niệm Người tiêu dùng quyết định mua bao nhiêu hàng hoá hoặc dịch vụ căn cứ vào rất nhiều yếu tố như giá của hàng hoá hoặc dịch vụ đó, thị hiếu của họ, giá của các hàng hoá hoặc dịch vụ liên quan, thu nhập, thông tin, và các chính sách của chính phủ…Để hiểu rõ hành vi của người tiêu dùng chúng ta sử dụng một khái niệm cơ bản của kinh tế học đó là cầu. Khái niệm cầu : Cầu là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó mà người tiêu dùng muốn mua và có khả năng mua sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định Như vậy cầu bao gồm hai yếu tố hợp thành đó là ý muốn mua và khả năng mua. Nếu bạn rất muốn mua một chiếc máy tính xách tay Compaq nhưng bạn không có tiền thì cầu của bạn đối với máy tính xách tay đó bằng không. Tương tự, nếu bạn có rất nhiều tiền nhưng bạn 19 CuuDuongThanCong.com https://fb.com/tailieudientucntt Chương 2: Lý thuyết cung – cầu không muốn mua chiếc máy cũ thanh lý thì cầu của bạn cũng không tồn tại.
Như vậy, cầu đối với hàng hoá hoặc dịch vụ chỉ tồn tại khi người tiêu dùng vừa mong muốn mua hàng hoá đó và sẵn sàng chi trả tiền cho hàng hoá đó. Lượng cầu: Lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người tiêu dùng mua tại một mức giá nhất định với các yếu tố khác không đổi Lượng cầu đối với một hàng hoá đó có thể lớn hơn lượng hàng hoá thực tế bán ra. Ví dụ, để thu hút khách hàng, mỗi tháng cửa hàng đĩa hát CD bán khuyến mại một lần vào ngày đầu tháng 20 đĩa ca nhạc với giá 10. Tại mức giá thấp đó, người tiêu dùng muốn và sẵn sàng mua 30 chiếc CD, nhưng vì cửa hàng chỉ bán 20 chiếc đãi hát nên người tiêu dùng chỉ mua được 20 chiếc CD.
Vậy lượng cầu là 30- là lượng người tiêu dùng muốn mua nhưng lượng thực tế bán ra chỉ là 20 chiếc. Chúng ta có thể biểu diễn mối tương quan hệ giữa giá và lượng cầu bằng đồ thị.1 minh hoạ đường cầu giản đơn nhất là đường tuyến tính với trục tung là mức giá, trục hoành biểu thị sản lượng.1: Quan hệ giữa giá cả và lượng cầu 2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới cầu 2.1 Tác động của giá tới lượng cầu 1. Đường cầu : Là đường biểu diễn mối quan hệ giữa giá cả và lượng cầu trên trục toạ độ trục tung là giá, trục hoành là lượng cầu. Đường cầu minh hoạ tác động của giá tới lượng cầu.
Khi giá của thị trường giảm xuống từ P1 tới P2, thì lượng cầu tăng lên từ Q1 đến Q2. Phản ứng của lượng cầu đối với sự thay đổi của giá được minh họa trên đường cầu D và các nhà kinh tế gọi đó là sự vận động dọc theo đường cầu. Luật cầu: Với hàng hoá thông thường khi giá cả tăng thì lượng cầu giảm và ngược lại. Các nhà kinh tế coi luật cầu là một trong những phát minh quan trọng của kinh tế học: Người tiêu dùng sẽ mua nhiều hàng hoá hoặc dịch vụ hơn nếu như giá của hàng hoá hoặc dịch vụ giảm xuống.
Theo như luật cầu thì đường cầu là đường nghiêng xuống về phía bên phải như minh hoạ trên hình 2.com https://fb.com/tailieudientucntt Chương 2: Lý thuyết cung – cầu 2.2 Tác động của các yếu tố khác tới cầu Trước hết chúng ta xem xét các yếu tố chủ yếu ngoài giá của bản thân hàng hoá tác động đến cầu đó là: thu nhập, thị hiếu, giá của các hàng hoá liên quan, thông tin, số lượng người tiêu dùng, quy định của chính phủ… 1.Thu nhập Là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định mua gì và bao nhiêu đối với người tiêu dùng vì thu nhập quyết định khả năng mua của người tiêu dùng. Một nhà thống kê học người Đức tên là Ernst Engel đã nghiên cứu cơ cấu chi tiêu của các hộ gia đình và phát biểu mối quan hệ giữa thu nhập và cầu đối với hàng hoá thành quy luật Engel. Quy luật này được các nhà kinh tế khác thừa nhận và là một trong những quy luật kinh tế quan trọng. Dựa vào mối quan hệ giữa thu nhập và cầu đối với hàng hoá và dịch vụ, Engel chia các loại hàng hoá như sau: - Đối với đa số hàng hoá và dịch vụ, khi thu nhập tăng lên thì cầu dối với chúng tăng lên và ngược lại.
Các hàng hoá đó được gọi là các hàng hoá thông thường. Trong hàng hoá thông thường lại có hàng hoá thiết yếu và hàng hoá xa xỉ. Hàng hoá thiết yếu là các hàng hoá được cầu nhiều hơn khi thu nhập tăng lên nhưng sự tăng cầu là tương đối nhỏ hoặc xấp xỉ như sự tăng của thu nhập. Ví dụ, các hàng hoá như lương thực, thực phẩm thường được coi là hàng hoá thiết yếu.
Khi thu nhập của bạn tăng lên 10 lần chẳng hạn, có lẽ chi tiêu cho lương thực sẽ nhiều lên nhưng không nhiều lần đến như vậy. Các hàng hoá xa xỉ là các hàng hoá được cầu tương đối nhiều khi thu nhập của bạn tăng lên. Đi du lịch, mua bảo hiểm, chi tiêu cho giáo dục tư nhân thường là các ví dụ kinh điển về hàng hoá xa xỉ. - Đối với một số hàng hoá và dịch vụ, khi thu nhập tăng lên người tiêu dùng mua ít đi và ngược lại.
Các hàng hoá đó có tên gọi là hàng hoá cấp thấp. Ví dụ trong thời bao cấp chúng ta thường phải ăn độn gạo và ngô hoặc khoai. Ngày nay, khi thu nhập cao lên việc tiêu dùng ngô, khoai giảm xuống. Thị hiếu Là ý thích của con người.
Thị hiếu xác dịnh chủng loại hàng hoá mà người tiêu dùng muốn mua. Thị hiếu thường rất khó quan sát và các nhà kinh tế thường giả định là thị hiếu không phụ thuộc vào giá của hàng hoá và thu nhập của người tiêu dùng. Thị hiếu phụ thuộc vào các nhân tố như tập quán tiêu dùng, tâm lý lứa tuổi, giới tính, tôn giáo… thị hiếu cũgn có thể thay đổi theo thời gian và chịu ảnh hưởng lớn của quảng cáo. Người tiêu dùng thường sẵn sàng bỏ nhiều tiền để mua hàng hoá có nhãn mác nổi tiếng và được quảng cáo nhiều.
Giá của hàng hoá liên quan Cũng tác động đến quyết định mua của người tiêu dùng. Mỗi hàng hoá có hai loại hàng hoá liên quan là hàng hoá thay thế và hàng hoá bổ xung. Hàng hoá thay thế là những hàng hoá giống hàng hoá đang xem xét hoặc có cùng giá trị sử dụng hay thoả mãn cùng nhu cầu ví dụ như chè và cà phê. Khi giá của hàng hoá thay thế (giá cà phê) giảm xuống, người tiêu dùng sẽ mua ít hàng hoá đang xem xét (chè) hơn.
Hàng hoá bổ xung là các hàng hoá được sử dụng cùng nhau ví dụ ô tô thì phải dùng với xăng, dịch vụ điện thoại đi kèm với máy điện thoại. Số lượng người tiêu dùng 21 CuuDuongThanCong.com https://fb.com/tailieudientucntt Chương 2: Lý thuyết cung – cầu Hay quy mô thị trường là một trong những nhân tố quan trọng xác định lượng tiêu dùng tiềm năng. Thị trường càng nhiều người tiêu dùng thì cầu tiềm năng sẽ càng lớn.Ví dụ rõ nhất là thị trường Trung Quốc với hơn 1 tỷ dân luôn là thị trường tiềm năng của các hãng sản xuất trên thế giới. Rất nhiều hãng đã đầu tư vào Trung Quốc để khai tác thị trường tiềm năng này.
Cơ chế chính sách của nhà nước: Khi nhà nước đưa các chính sách kinh tế vĩ mô thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hành vi của người tiêu dùng do đó ảnh hưởng tới cầu.Ví dụ như nhà người tăng thuế nhập khẩu xe ô tô cũ tới 600% thì giá bán xe ô tô cũ sẽ tăng và do đó người tiêu dùng sẽ mua được ít xe ô tô cũ hơn.