CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Những nghiên cứu về sự cần thiết thể hiện vai trò nhà nước trong thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển Pascal và cộng sự (2011) trong “The influence of fiscal regulations on investment in marine fisheries: A French case study” chỉ phân tích động lực đầu tư trong một lĩnh vực kinh tế biển là nghề cá. Các tác giả đi sâu phân tích các lý do và động lực đầu tư vào các đội tàu đánh cá thương mại của Pháp hoạt động dọc theo bờ biển Đại Tây Dương và vai trò của các chính sách công đối với đầu tư.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra vai trò của chính sách tài khóa đối với các chiến lược đầu tư được quan sát. Trong đó, những chính sách ưu đãi dành cho các nhà đầu tư khắc phục khó khăn khi gặp rủi ro trên biển sẽ thu hút phát triển nghề cá. Như vậy, chính sách của Nhà nước đối với thu hút đầu tư có ảnh hưởng tới sự phát triển của nghề cá - một trong những ngành kinh tế biển quan trọng của nước Pháp. Chi-Wei Su và cộng sự (2021) trong “Financial aspects of marine economic growth: From the perspective of coastal provinces and regions in China” đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa tăng cường vốn đầu tư với tăng trưởng kinh tế biển ở Trung Quốc.
Hệ thống tài chính hoàn thiện, thị trường vốn phát triển cho phép các ngành công nghiệp biển tận dụng tối đa các nguồn tài chính sẵn có, có lợi cho tăng trưởng kinh tế biển. Bài nghiên cứu cho rằng có thể thúc đẩy phát triển kinh tế biển thông qua thu hút vốn đầu tư trong các chính sách của chính phủ và đã được thiết lập ở hầu hết các tỉnh ven biển. Theo đó, chính quyền địa phương cần chú trọng thu hút vốn đầu tư để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế biển địa phương. Naimah và cộng sự (2022) trong “Three centuries of marine governance in Indonesia: Path dependence impedes sustainability” cho rằng vai trò nhà nước rất quan trọng trong quản lý phát triển kinh tế biển bền vững.
Công trình nghiên cứu đã phân tích sự thay đổi về thể chế quản lý kinh tế biển ở Indonesia trong suốt 300 năm. Biển luôn có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của đất nước, song khi coi kinh tế biển là nơi mang lại nguồn lợi cho giới thượng lưu nhờ vào việc sở hữu và cho thuê thì việc quản lý kinh tế biển trở nên khó khăn hơn đối với việc đảm bảo quyền lợi của người dân và bảo vệ môi trường biển. Các tác giả đã khẳng định sự phát triển của kinh tế biển chịu tác động mạnh mẽ của các thể chế và vai trò quản lý Nhà nước cũng như nhận thức của chính 12 quyền địa phương. Tuy nhiên, về vai trò nhà nước trong thu hút đầu tư để phát triển kinh tế biển hầu như chưa được đề cập và phân tích thấu đáo.
Shuhong Wang và cộng sự (2021) trong “Financial development, productivity, and high-quality development of the marine economy” đã khám phá biện pháp cải thiện hiệu quả năng suất của các ngành công nghiệp biển từ góc độ thu hút đầu tư để tìm ra những ý tưởng mới cho sự phát triển ngành kinh tế biển chất lượng cao. Các tác giả đã phân tích các quan hệ trực tiếp ảnh hưởng của đầu tư với cải thiện năng suất ngành hàng hải. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tăng cường thu hút đầu tư góp phần đáng kể vào tăng năng suất trong ngành hàng hải. Nghiên cứu chỉ rõ về chiều sâu hiệu quả và môi trường thu hút đầu tư có ảnh hưởng tích cực đến năng suất của ngành kinh tế biển, chủ yếu tại các vùng ven biển nhưng về chiều rộng thì thu hút đầu tư vẫn chưa có ảnh hưởng nhiều.
Nguyên nhân chính là khả năng thu hút đầu tư hiện tại vào các ngành công nghiệp biển vẫn chưa phù hợp với nhu cầu đầu tư của ngành. Từ đó, các tác giả đưa ra khuyến nghị cần tăng cường thu hút đầu tư để phát triển kinh tế biển bằng cách thiết lập hệ thống tài chính cho các ngành, đổi mới hình thức thu hút đầu tư. Segura và cộng sự (2018) trong bài “Economic-financial modeling for marine current harnessing projects” cho rằng nguồn lực biển vô cùng dồi dào và có thể tái tạo. Đây là cơ sở cho phát triển kinh tế biển dài lâu.
Kinh tế biển không chỉ dựa vào những ngành truyền thống như ngư nghiệp, logistics mà còn có thể phát triển sản xuất điện và năng lượng từ biển. Tuy nhiên, cho đến nay, việc khai thác nguồn lực biển vẫn còn nhiều hạn chế mà nguyên nhân chủ yếu là bởi vấn đề tài chính. Vì thế, thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển vô cùng quan trọng. Nghiên cứu đã chỉ ra các phương thức tăng cường tài chính phát triển kinh tế biển mà chính quyền địa phương có thể thực hiện ngoài thu hút đầu tư của các doanh nghiệp thì có thể mở rộng kênh cung cấp vốn của ngân hàng, các tổ chức tín dụng.
Đoàn Vĩnh Tường (2008) trong luận án tiến sĩ kinh tế của mình đã trình bày “Giải pháp về vốn đối với phát triển kinh tế biển trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa”. Với giới hạn nghiên cứu của mình, tác giả đã tập trung vào khía cạnh thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế biển để xây dựng khung lý luận đặc thù và nghiên cứu thực tiễn tại một địa phương có biển là Khánh Hoà. Tác giả khẳng định chủ thể thực hiện các giải pháp thúc đẩy thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển ở địa phương là chính quyền cấp tỉnh nhưng toàn bộ nghiên cứu mới tiếp cận ở nội dung định hướng chiến lược, xây dựng và thực thi các chính sách. Luận án đã đề xuất được những giải pháp và khuyến nghị có tính khả thi để 13 thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế biển tỉnh Khánh Hòa.
Tuy nhiên, trong luận án các nghiên cứu về kinh tế biển chưa đi sâu vào phân tích cho từng nội dung của kinh tế biển, tiếp cận về các nguồn vốn nhất là các yếu tố ảnh hưởng tới việc thu hút vốn đầu tư để phát triển kinh tế biển địa phương. Đỗ Thị Hà Thương (2016) đã tập trung nghiên cứu về huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế biển Thanh Hoá. Luận án đánh giá thực trạng các nguồn vốn đầu tư phát triển chỉ ra những kết quả, các hạn chế, nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp để huy động vốn cho phát triển kinh tế biển của tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới. Tuy nhiên, luận án chỉ đi xem xét ở khía cạnh nguồn vốn mà chưa có cái nhìn toàn diện hơn về hoạt động thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển tại địa phương.
Có thể thấy, dù là nghiên cứu trong hay ngoài nước, để đạt được kết quả thu hút đầu tư cho mục tiêu phát triển kinh tế biển thì rất cần phải có sự can thiệp của chính quyền địa phương ở nhiều phương diện. Những nghiên cứu về các nội dung thể hiện vai trò nhà nước trong thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển ở địa phương Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cập đến vai trò nhà nước trong thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển ở một số khía cạnh khác nhau. Mặc dù chúng không xuất hiện tất cả trong một nghiên cứu (có tính rời rạc) nhưng có thể tổng hợp lại như sau: 1. Thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển cần một thể chế rõ ràng với các văn bản quy phạm pháp luật và các chính sách được ban hành Để thu hút đầu tư phát triển kinh tế nói chung và kinh tế biển nói riêng, chính phủ phải xây dựng một thể chế để cả doanh nghiệp lẫn người dân tin tưởng (Yeoh và cộng sự, 2003).
Về cơ bản, vai trò nhà nước trong nền kinh tế thị trường như vai trò điều chỉnh, tạo sân chơi chung, thu hút đầu tư … đều phải được luật hoá trong các văn bản quy phạm pháp luật (Phạm Ngọc Quang, 2009). Elizabeth Asiedu (2006) đã chỉ ra những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp bao gồm tài nguyên thiên nhiên, quy mô thị trường, chính sách của chính phủ, thể chế và hệ thống luật pháp. Những số liệu phân tích đã chỉ ra, một quốc gia nhỏ hoặc thiếu tài nguyên vẫn có thể thu hút đầu tư bằng cách cải cách thể chế, pháp luật và xây dựng hệ thống chính sách phù hợp, hấp dẫn. Tuy nhiên, tác giả đặc biệt nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong thu hút đầu tư.
Trong nghiên cứu “Role of Government in Attracting and Inviting Investment from the Private Sector: Extrapolations from the Singapor Experience” của Yeoh và cộng sự (2003) đã khẳng định: thể chế nhằm thu hút đầu tư cho phát triển kinh tế viển là hệ thống 14 hành chính mang tính toàn vẹn và hiệu quả cùng với hệ thống tài chính lành mạnh được quản lý chặt chẽ. Chính vì vậy, Singapore trở thành vùng đất có lợi nhất cho các nhà đầu tư trên thế giới với năng lực cạnh tranh cao. Có thể thấy, ở những quốc gia hay địa phương có biển thì phát triển kinh tế biển luôn được ưu tiên hàng đầu bởi đây là một trong những lợi thế so sánh lớn. Chính vì vậy, thu hút đầu tư vào phát triển kinh tế biển cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Khung lý luận về phát triển kinh tế biển được Chu Đức Dũng (2011) xây dựng khá đầy đủ trong “Chiến lược phát triển kinh tế biển Đông của một số nước Đông Á - Tác động và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam”. Dựa trên khung lý luận này, tác giả phân tích thực trạng tại một số nước Đông Á và rút ra bài học cho Việt Nam về xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển. Tài liệu mới chỉ đề cập đến một nội dung của vai trò Nhà nước trong phát triển kinh tế biển ở cấp quốc gia và cũng chưa xem xét ở cấp tỉnh, địa phương. Vấn đề về chiến lược phát triển kinh tế biển cũng được Bùi Thị Lan Hương (2011) quan tâm.
Tuy nhiên, tác giả lựa chọn giới hạn không gian nghiên cứu tại một số quốc gia trên thế giới và rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam. Dựa vào các chiến lược phát triển kinh tế biển, các chính sách thu hút đầu tư vào lĩnh vực này sẽ được xây dựng để đạt được mục tiêu chiến lược đặt ra.