lời mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc bố cục làm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút vốn đầu tƣ cho phát triển du lịch. 7 z Chƣơng 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tƣ cho phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh. Chƣơng 3: Những giải pháp nhằm tăng cƣờng thu hút vốn đầu tƣ cho phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh. 8 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Du lịch và phát triển du lịch Luật du lịch đƣợc Quốc hội thông qua năm 2005 đã đƣa ra khái niệm: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [8].
Từ khái niệm trên, có thể rút ra những luận điểm cơ bản về du lịch sau: - Du lịch là hoạt động của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên. - Chuyến du lịch ở nơi đến mang tính tạm thời, trong một thời gian ngắn. - Mục đích của chuyến du lịch là thoả mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dƣỡng hoặc kết hợp đi du lịch với giải quyết những công việc của cơ quan và nghiên cứu thị trƣờng, nhƣng không vì mục đích định cƣ hoặc tìm kiếm việc làm để nhận thu nhập nơi đến viếng thăm. - Du lịch là thiết lập các quan hệ giữa khách du lịch với nhà cung ứng các dịch vụ du lịch, chính quyền địa phƣơng và dân cƣ ở địa phƣơng.
Phát triển du lịch được hiểu là sự vận động đi lên theo chiều hướng tiến bộ của hoạt động du lịch cả về quy mô số lượng và chất lượng. Đây cũng là quá trình cộng đồng doanh nghiệp, dân cư và chính quyền không ngừng mở rộng và nâng cao chất lượng cơ sở cung ứng dịch vụ cũng như các loại dịch vụ du lịch.2 Khái niệm vốn đầu tƣ và thu hút vốn đầu tƣ Vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của một đơn vị kinh tế hay một quốc gia. Các loại vốn đang trong quá trình đầu tƣ xây dựng…đƣợc gọi là vốn đầu 9 z tƣ. Vốn đầu tƣ là toàn bộ những chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời gian nhất định.
Vốn đầu tƣ thƣờng thực hiện qua các dự án đầu tƣ và một số chƣơng trình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung tài sản cố định và tài sản lƣu động. Theo Luật Đầu tƣ đƣợc Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 thì “Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp”[9, tr. Thu hút vốn đầu tƣ là hoạt động nhằm khai thác, huy động các nguồn vốn đầu tƣ để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tƣ cho phát triển kinh tế. Thu hút vốn đầu tƣ bao gồm tổng hợp các cơ chế, chính sách, thông qua các điều kiện về hành lang pháp lý, kết cấu hạ tầng kỹ thuật – xã hội, các nguồn tài nguyên, môi trƣờng…để thu hút các nhà đầu tƣ đầu tƣ vốn, khoa học công nghệ…để sản xuất kinh doanh nhằm đạt đƣợc một mục tiêu nhất định.
Thực chất thu hút vốn đầu tƣ là làm gia tăng sự chú ý, quan tâm của các nhà đầu tƣ để từ đó dịch chuyển dòng vốn đầu tƣ vào địa phƣơng hoặc ngành [6, tr.3 Các nguồn vốn đầu tƣ Ở góc độ chung nhất trong phạm vi một quốc gia, nguồn vốn đầu tƣ đƣợc chia thành hai nguồn: nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc và nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.1 Nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc: Nguồn vốn trong nƣớc thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia. Nguồn vốn này có ƣu điểm là bền vững, ổn định, chi phí thấp, giảm thiểu đƣợc rủi ro và tránh đƣợc hậu quả từ bên ngoài. Nguồn vốn trong nƣớc bao gồm vốn Nhà nƣớc, vốn tín dụng, vốn của khu vực doanh nghiệp tƣ nhân và dân cƣ chủ yếu đƣợc hình thành từ các khu vực sau: tiết kiệm của ngân sách, tiết kiệm của doanh nghiệp và tiết kiệm của khu vực dân cƣ. - Tiết kiệm của ngân sách nhà nước: Là số chênh lệch dƣơng giữa tổng các khoản thu mang tính không hoàn lại (chủ yếu là thuế) với tổng chi tiêu của ngân 10 z sách.
Tiết kiệm ở khâu tài chính này sẽ hình thành nên nguồn vốn đầu tƣ của nhà nƣớc và phụ thuộc vào chính sách chi tiêu của ngân sách. - Tiết kiệm doanh nghiệp: Là số lãi ròng có đƣợc từ kết quả kinh doanh. Đây là nguồn tiết kiệm cơ bản để các doanh nghiệp tạo vốn cho đầu tƣ phát triển theo chiều rộng và chiều sâu. Quy mô tiết kiệm của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố trực tiếp nhƣ hiệu quả kinh doanh, chính sách thuế, sự ổn định kinh tế vĩ mô… - Tiết kiệm của khu vực dân cư: Là khoản tiền còn lại của thu nhập sau khi đã phân phối và sử dụng cho mục đích tiêu dùng.
Quy mô tiết kiệm của khu vực dân cƣ chịu ảnh hƣởng bởi các nhân tố trực tiếp nhƣ trình độ phát triển kinh tế, thu nhập bình quân đầu ngƣời, chính sách lãi suất, chính sách thuế, sự ổn định kinh tế vĩ mô… 1.2 Nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài: Nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc hình thành từ tiết kiệm của các chủ thể kinh tế nƣớc ngoài và đƣợc huy động thông qua các hình thức cơ bản: Viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance – ODA) và Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (Foreign Direct Invesment – FDI). - Viện trợ phát triển chính thức ODA: Đây là tất cả các khoản viện trợ của các đối tác viện trợ nƣớc ngoài dành cho Chính phủ và nhân dân nƣớc nhận viện trợ. Gọi là “Viện trợ” bởi vì các khoản đầu tƣ này thƣờng là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài. Gọi là “Phát triển” vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tƣ này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nƣớc đƣợc đầu tƣ.
Gọi là “Chính thức”, vì nó thƣờng là cho Nhà nƣớc vay [23]. ODA một vừa là nguồn bổ sung cho nguồn vốn trong nƣớc để phát triển kinh tế, vừa giúp các quốc gia nhận viện trợ tiếp cận nhanh chóng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Ngoài ra, nó tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và đào tạo phát triển nguồn nhân lực. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI: Đây là hình thức đầu tƣ dài hạn của cá nhân hay công ty nƣớc này vào nƣớc khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh [23].
Cá nhân hay công ty nƣớc ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản 11 z xuất kinh doanh này. Các hình thức chủ yếu của FDI ở nƣớc ta nhƣ doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh dƣới các hình thức BOT, BTO, BT. FDI không chỉ đơn thuần đƣa ngoại tệ vào nƣớc sở tại mà còn kèm theo chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và khả năng tiếp cận thị trƣờng thế giới, giải quyết việc làm, sử dụng tài nguyên trong nƣớc. Hiện nay, đối với nền kinh tế đang chuyển đổi trong giai đoạn thực hiện công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nƣớc, nguồn vốn tiết kiệm trong nƣớc luôn giữ vai trò quan trọng, quyết định sự phát triển bền vững lâu dài của nền kinh tế, ngoài việc làm tăng vốn đầu tƣ, nó còn là điều kiện để hấp thụ vốn nƣớc ngoài một cách có hiệu quả.
Tuy nhiên, do nguồn vốn này còn thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu vốn đầu tƣ phát triển nên cần phải thu hút nguồn vốn nƣớc ngoài để tạo cú hích cho sự đầu tƣ phát triển nền kinh tế. Nhận thức đƣợc điều đó, trong bài luận văn này, tác giả đã đề cao tầm quan trọng của cả hai nguồn vốn trong nƣớc và nguồn vốn nƣớc ngoài (chủ yếu là vốn FDI) đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng.2 Thu hút vốn đầu tƣ để phát triển du lịch 1.1 Sự cần thiết phải thu hút vốn đầu tƣ để phát triển du lịch Thu hút vốn đầu tƣ đƣợc các nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu, đƣợc Chính phủ các nƣớc đẩy mạnh thực hiện. Quá trình này đang diễn ra gay gắt giữa các quốc gia, khu vực, vùng miền. Cũng nhƣ với các ngành kinh tế khác, thu hút vốn đầu tƣ có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của ngành du lịch.
Để đƣa du khách đến với các địa điểm du lịch, trƣớc hết cần phải đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng nhƣ hệ thống giao thông, phƣơng tiện vận chuyển…Muốn giữ chân du khách, phải đầu tƣ xây dựng, tôn tạo các khu du lịch, xây dựng cơ sở lƣu trú, hoàn chỉnh hệ thống thông tin liên lạc, cung cấp nƣớc sạch, năng lƣợng cho các khu du lịch. Muốn gia tăng nguồn thu từ khách du lịch phải đầu tƣ vốn để tạo ra các sản phẩm du lịch đa dạng, phong phú và hấp dẫn…Do đó, việc xác định quy mô và định hƣớng đầu tƣ vốn đúng đắn sẽ tạo điều kiện cho du lịch phát triển bền vững, khai thác tốt các 12 z tiềm năng và bảo vệ cảnh quan môi trƣờng. Ở nhiều quốc gia trên thế giới, kinh doanh du lịch đang là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch là “con gà đẻ trứng vàng”, vì vậy, không ngừng thu hút vốn đầu tƣ vào phát triển du lịch là sự cần thiết khách quan bởi một số lý do sau: - Thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch góp phần tăng trưởng kinh tế: Thu hút đẩu tƣ sẽ làm cho lƣợng vốn đầu tƣ tăng lên, do đó sản lƣợng đầu ra cũng tăng lên sẽ góp phần phát triển ngành du lịch nói riêng và thúc đẩy các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân phát triển thông qua việc tạo ra một thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm cho các ngành. Từ nông nghiệp, thuỷ hải sản, công nghiệp chế biến lƣơng thực thực phẩm, công nghiệp hàng tiêu dùng đến điện lực, nƣớc sạch, bƣu chính, viễn thông…tiêu thụ đƣợc sản phẩm thông qua bán sản phẩm và dịch vụ cho khách du lịch và doanh nghiệp du lịch.