chương 1 tác giả hướng đến tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan được thực hiện ở trong và ngoài nước về các yếu tố thành công then chốt đối với dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông nhằm xác định khoảng trống nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu của luận án. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước về các yếu tố thành công then chốt đối với dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ theo hình thức PPP/BOT Ở Việt Nam trong những năm qua cũng đã có những công trình nghiên cứu về dự án cơ sở hạ tầng nói chung (và các dự án hạ tầng giao thông nói riêng) theo hình thức đối tác công tư PPP/BOT, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào thực hiện về các yếu tố thành công then chốt đối với dự án xây dựng kết cấu hạ tầng GTĐB theo hình thức BOT. Cụ thể như sau: 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến PPP/BOT ở Việt Nam Đặc điểm của các dự án đầu tư công nói chung và dự án xây dựng kết cấu hạ tầng GTĐB là thường đòi hỏi nguồn vốn lớn vì vậy hình thức PPP/BOT là hướng đi phù hợp.
Điều này được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và cả ở Việt Nam khẳng định, như Nguyễn Thị Kim Dung (2008) đã giới thiệu thực tiễn PPP trên toàn thế giới, chỉ ra khả năng ứng dụng của PPP tại Việt Nam. Vì đây là một nghiên cứu được thực hiện trong thời gian Việt Nam vừa gia nhập WTO, nên đề tài chủ yếu nghiên cứu các mô hình PPP và thực tiễn trên toàn thế giới và dự báo tiềm năng khai thác PPP tại Việt Nam. luan an 7 Hay như Nguyễn Thị Minh (2011) đã nghiên cứu các kinh nghiệm ứng dụng PPP quốc tế trong Vương quốc Anh và Úc (cả hai quốc gia phát triển có ứng dụng thành công về PPP), Hàn Quốc (một quốc gia mới công nghiệp hóa dẫn đầu về ứng dụng PPP trong Giao thông vận tải xây dựng cơ sở hạ tầng ở châu Á) và Trung Quốc (một quốc gia đang phát triển có sự chuyển tiếp kinh tế, tương tự như Việt Nam) để từ đó đưa ra những đề xuất trong việc thực hiện PPP tại Việt Nam như cần nâng cao vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc thiết lập khung pháp lý và chính sách, bộ máy quản lý cho PPP, môi trường kinh doanh; cũng như những yêu cầu đặt ra đối với khu vực tư nhân trong tham gia PPP. Nguyễn Hồng Thái (2012) chỉ ra để đảm bảo mô hình hợp tác công tư có tính hiệu quả bên cạnh việc cải cách thể chế, tạo hành lang pháp lý (hình thành luật đầu tư công và luật đầu tư tư nhân); Chính phủ phải tuân thủ thực hiện hợp đồng ngay cả trong những thời điểm khó khăn; các nhà đầu tư có trách nhiệm và bảo toàn trách nhiệm với người tiêu dùng và Chính phủ cần chuyển từ lời kêu gọi thuần túy sang việc cho phép trên thực tế hình thành mô hình hợp tác công tư nhanh chóng phát triển hệ thống CSHT mà nước ta đang cần.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến xây dựng kết cấu hạ tầng GTĐB theo hình thức PPP/BOT Ở Việt Nam, nghiên cứu về kết cấu hạ tầng GTĐB nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam. Nghiêm Văn Dĩnh (2010) và (2012) đã cung cấp kiến thức chung về cơ sở khoa học của các hoạt động đầu tư và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông; quản lý Nhà nước đối với vốn đầu tư xây dựng giao thông. Đinh Kiện (2010) cho rằng hiện còn thiếu quy hoạch tổng thể, dài hạn của Nhà nước cũng như của từng địa phương, hành lang pháp lý chưa đầy đủ, yếu kém về khung pháp lý và thể chế. Ngoài ra, năng lực còn hạn chế của cán bộ các cơ quan quản lý Nhà nước được đào tạo và có kinh nghiệm để đảm bảo dự án được quy hoạch và thực hiện có hiệu quả (Bùi Thị Hoàng Lan, 2010),.
được coi là những nguyên nhân chủ yếu cản trở sự phát triển của dự án đầu tư theo hình thức PPP trong xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam. Thậm chí trong nhiều trường hợp, các vấn đề cần giải quyết của dự án lại vượt quá năng lực của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trong khi hầu hết các cơ quan thuộc Chính phủ có rất ít kinh nghiệm trong việc triển khai thực hiện và quản lý các dự án đầu tư theo hình thức PPP, thì họ vẫn được giao quản lý thực hiện các dự án này một cách tương đối độc lập, với sự phối hợp lỏng lẻo, ít chia sẻ kinh nghiệm với nhau (Đinh Kiện, 2010). luan an 8 Nguyễn Thị Ngọc Huyền và cộng sự (2011) đã phân tích sự cần thiết và hiện trạng đầu tư vào hình thức PPP trong xây dựng cơ sở hạ tầng đường bộ tại Việt Nam.
Giải pháp được các tác giả đưa ra nhằm phát huy vai trò của Nhà nước và khu vực tư nhân trong việc tăng cường đầu tư theo hình thức này: xây dựng khung chính sách và các quy định chuẩn hóa cho các hoạt động liên quan đến PPP; xây dựng khung pháp lý đồng bộ cho PPP; cài đặt lên một bộ máy quản lý cho PPP; tăng cường xúc tiến đầu tư và vận động các hoạt động nhằm thu hút sự quan tâm của cả nhà đầu tư trong và ngoài nước, người sử dụng dịch vụ. Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2013), nghiên cứu các mục tiêu liên quan đến cơ sở hạ tầng đường bộ Việt Nam phát triển theo hình thức PPP, đã tiến hành phân tích và đánh giá tình trạng của PPP trong phát triển cơ sở hạ tầng tại Việt Nam. Tác giả đề xuất một số khuyến nghị về triển khai cơ sở hạ tầng tại Việt Nam để biến PPP thành một hình thức hợp tác và đầu tư hiệu quả để huy động kinh phí phát triển cơ sở hạ tầng. Chúng bao gồm các khuyến nghị cho công chúng lĩnh vực như cải thiện khuôn khổ giám sát và đánh giá đầu tư hiệu quả và các khuyến nghị cho khu vực tư nhân như cải thiện tài chính, năng lực chuyên môn và quản lý.
Ưu điểm của nghiên cứu là khuyến nghị để tăng cường vai trò của người dùng cơ sở hạ tầng, như khuyến khích giám sát các cơ sở giao thông, khuyến khích các cá nhân và tổ chức sử dụng PPP thông qua mức phí hợp lý, chất lượng cao và tổ chức đào tạo nâng cao nhận thức và cập nhật kiến thức về các dự án PPP cho cộng đồng. Huỳnh Thị Thúy Giang (2012) đã nghiên cứu đã xem xét việc áp dụng một mô hình thử nghiệm của PPP trên toàn thế giới (ở các nước phát triển và các nước đang phát triển) để hiểu cách thức vận hành và khám phá PPP là gì, yếu tố thành công và rào cản trong phát triển cơ sở hạ tầng đường bộ và để lựa chọn một phù hợp mô hình áp dụng với điều kiện của Việt Nam. Nghiên cứu này cũng đánh giá tình hình của đầu tư tư nhân vào lĩnh vực đường bộ tại Việt Nam, khám phá sự sẵn sàng của khu vực tư nhân đầu tư vào các dự án đường bộ PPP (đặc biệt là các hình thức FDI và liên doanh) bằng cách đo lường mức độ hài lòng với mong đợi. Kết quả thống kê phân tích cho thấy khu vực tư nhân đã không sẵn sàng tham gia vào các hình thức đối tác công tư.
Tác giả đã xác định được 5 kỳ vọng chính của nhà đầu tư, ảnh hưởng đến sự sẵn lòng tham gia của họ PPP, bao gồm lợi nhuận, khung pháp lý, quan hệ đối tác, kinh tế vi mô và rủi ro chia sẻ. Các khuyến nghị đã được đặt ra để tập trung vào việc cải thiện 5 yếu tố này để ra mắt và vận hành PPP để thu hút đầu tư vốn vào phát triển đường bộ Việt Nam. Đặng Thị Hà (2013) đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản có liên quan đến huy động vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước nói chung và theo hình thức PPP nói riêng để thực hiện các dự án xây dựng đường cao tốc ở Việt Nam. Nghiên cứu luan an 9 cũng đưa ra một số giải pháp huy động vốn ngoài ngân sách Nhà nước theo các hình thức PPP để phát triển đường cao tốc.
Phan Thị Bích Nguyệt (2013) đã phân tích hiệu quả của việc áp dụng PPP để giải quyết vấn đề vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng trong bối cảnh giao thông đô thị ở Việt Nam. Tác giả đã chỉ ra một số bất cập trong việc triển khai thí điểm PPP tuân theo Quyết định 71, đặc biệt là trong khung pháp lý và đồng bộ hóa thấp giữa lợi ích khu vực tư nhân và công cộng. Tác giả cho rằng vẫn chưa có đủ hài hòa về lợi ích và cơ chế chia sẻ rủi ro giữa các đối tác Hay như, Phí Vĩnh Tường (2015) đã có những phân tích khá kỹ ở nhiều khía cạnh như mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển hạ tầng giao thông, xu hướng chuyển giao một phần vai trò phát triển hạ tầng giao thông sang khu vực tư nhân. Môi trường chuyển giao vai trò cho khu vực tư nhân là hình thức đối tác công tư.
Tài liệu cũng nghiên cứu kinh nghiệm quy hoạch phát triển giao thông đường bộ ở Đài Loan, kinh nghiệm huy động vốn cho phát triển hạ tầng giao thông của Chile, Trung Quốc nhằm rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam. Khi phân tích về thực trạng, khung chính sách phát triển hạ tầng giao thông Việt Nam, tài liệu đã chỉ ra những thách thức trong quá trình phát triển. Đó là những thách thức về quy hoạch phát triển, huy động vốn, thách thức phát triển hạ tầng giao thông phục vụ mục tiêu giảm nghèo và kết nối với hạ tầng giao thông khu vực ASEAN. Những khuyến nghị được đưa ra là: đột phá trong quy hoạch và huy động vốn ngoài ngân sách để phát triển hạ tầng giao thông; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, phát triển quỹ vốn từ chính sách đền bù giải phóng mặt bằng.