phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn đƣợc kết cấu theo bốn chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1: Tổng quan và Cơ sở lý luận về chiến lƣợc phát triển của tổ chức khoa học công nghê. Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Phân tích căn cứ hình thành chiến lƣợc phát triển của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam. Chƣơng 4: Đề xuất và lựa chọn chiến lƣợc phát triển Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam.
TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN CỦA MỘT TỔ CHỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 1. Bản chất của chiến lƣợc phát triển 1. Khái niệm về chiến lược Khái niệm chiến lƣợc có từ thời Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ này vốn có nguồn gốc sâu xa từ quân sự, xuất phát từ “strategos” (quân đội, bầy đoàn) và “agos” (lãnh đạo, điều kiển) do vậy, chiến lƣợc đƣợc hiểu là một thuật ngữ quân sự đƣợc dùng để chỉ kế hoạch dàn trận và phân bổ lực lƣợng với mục đích đánh thắng kẻ thù.
Chính vì vậy, trong quân sự chiến lƣợc đƣợc hiểu là “nghệ thuật phối hợp các lực lƣợng quân sự, chính trị, tinh thần, kinh tế đƣợc huy động vào chiến tranh nhằm thắng kẻ thù”. Những gì mà các nhà chiến lƣợc quân sự trải nghiệm và tích lũy đƣợc đã giúp ích rất nhiều cho các nhà chiến lƣợc kinh tế. Các lý thuyết chiến lƣợc quân sự đã trở nên quen thuộc và là tài liệu tham khảo quý báu cho các nhà chiến lƣợc kinh tế. Các công trình nghiên cứu về chiến lƣợc trên thế giới: Theo Alfred Chandler “Chiến lƣợc bao gồm các mục tiêu cơ bản dài hạn của tổ chức, cách thức hoặc phƣơng hƣớng hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó” Theo Mintzberg, Henry and, Quinn, James Brian (1996) “Chiến lƣợc là một dạng thức hoặc một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các trình tự hành động thành một tổng thể thống nhất”.
Theo quan niệm truyền thống “Chiến lƣợc đƣợc xem nhƣ là một kế hoạch tổng thể, dài hạn của một tổ chức nhằm đạt tới các mục tiêu lâu dài”. Chiến lƣợc bao gồm các động thái cạnh tranh và các phƣơng pháp hoạt động (kinh doanh) do nhóm lãnh đạo sử dụng để vận hành Tổ chức. Chiến lƣợc giúp tổ chức đạt đƣợc mục tiêu trƣớc mắt và lâu dài, tổng thể và bộ phận, là một điều hết sức quan trọng và cần thiết. Mục đích của việc hoạch định chiến lƣợc là dự kiến tƣơng lai trong hiện tại.
Tuy nhiên, quá trình đó phải có sự kiểm soát chặt chẽ, hiệu chỉnh trong từng bƣớc đi. Một chiến lƣợc vững mạnh luôn cần đến khả 4 z năng điều hành linh hoạt, sử dụng đƣợc các nguồn lực vật chất, tài chính và con ngƣời thích ứng. Và có rất nhiều định nghĩa nữa dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lƣợc vẫn là phác thảo hình ảnh tƣơng lai của tổ chức trong lĩnh vực hoạt động và khả năng khai thác. Theo Hoàng Văn Hải (2015), chiến lƣợc phát triển là chuỗi các quyết định nhằm định hƣớng tƣơng lai và tạo ra sự thay đổi về chất bên trong tổ chức.
Theo cách tiếp cận này, thuật ngữ chiến lƣợc phát triển đƣợc dùng theo 3 ý nghĩa phổ biến nhất: - Xác lập mục tiêu dài hạn của tổ chức. - Đƣa ra các chƣơng trình hành động tổng quát. - Lựa chọn các phƣơng án hành động, triển khai phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang có xu hƣớng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thì nhà quản trị phải hiểu rõ hơn những mặt tích cực và mặt trái của hội nhập để tìm ra các bƣớc đi thông qua chiến lƣợc.
Ngày nay, hệ thống chiến lƣợc đang đƣợc nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay bao gồm: chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, chiến lƣợc phát triển các ngành và lĩnh vực, chiến lƣợc phát triển các lãnh thổ (vùng lớn, vùng kinh tế trọng điểm, tỉnh, thành phố), chiến lƣợc của tổ chức/tổ chức. Giữa các chiến lƣợc đó có mối quan hệ hữu cơ, chặt chẽ với nhau. Mỗi một tổ chức trong nƣớc hiện nay cũng đều xây dựng cho mình một chiến lƣợc phát triển trong khoảng thời gian nhất định: một năm, năm năm hay dài hạn Chiến lƣợc là sợi chỉ xuyên suốt quá trình, nó dẫn đến sự phát triển và thực hiện các quyết định, hoạt động của tổ chức. Chiến lƣợc của mỗi tổ chức cũng đã tập trung vào việc định hƣớng phát triển của mình nhƣng trong thực tế còn nhiều tổ chức vẫn còn chƣa thực hiện đƣợc chiến lƣợc đề ra.
Vì vậy, với đề tài này, tôi mong muốn rằng sẽ đóng góp tích cực vào việc xây dựng chiến lƣợc của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam giai đoạn 2015-2020. Mục đích của chiến lƣợc Thông thƣờng trong chiến lƣợc bao giờ cũng có hai nội dung chính là: mục tiêu chiến lƣợc và giải pháp chiến lƣợc. Nhƣng cái cốt lõi của chiến lƣợc là các giải pháp chiến lƣợc, đó là phƣơng án tối ƣu để thực hiện các mục tiêu chiến lƣợc. Chiến lƣợc đƣợc coi nhƣ là bánh lái của con thuyền, còn mục tiêu là cái đích mà con thuyền phải đến.
Mục đích của chiến lƣợc đó là thông qua hệ thống các mục tiêu, các biện pháp chủ yếu và các chính sách, chiến lƣợc sẽ vẽ ra một bức tranh toàn cảnh của tổ chức, tổ chức muốn có trong tƣơng lai, chiến lƣợc còn phác họa ra những triển vọng, quy mô, vị thế, hình ảnh của tổ chức, tổ chức trong tƣơng lai. Chiến lƣợc còn vạch một khuôn khổ để hƣớng dẫn cho các nhà quản trị tƣ duy và hành động. Vai trò của chiến lƣợc Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay luôn cạnh tranh gay gắt, xã hội luôn luôn biến đổi và phát triển. Để ứng phó với những thay đổi đó cũng nhƣ để tồn tại và phát triển, mỗi tổ chức, mỗi tổ chức hay công ty cần xây dựng cho mình một chiến lƣợc đúng đắn.
Chiến lƣợc phát triển giúp cho tổ chức nhận rõ đƣợc mục đích, hƣớng đi của mình trong tƣơng lai, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của tổ chức. Chiến lƣợc đóng vai trò định hƣớng hoạt động trong dài hạn của tổ chức, nó là cơ sở vững chắc cho việc triển khai các hoạt động tác nghiệp. Sự thiếu vắng chiến lƣợc hoặc chiến lƣợc đƣợc thiết lập không rõ ràng không có luận cứ vững chắc sẽ làm cho hoạt động của tổ chức mất phƣơng hƣớng, có nhiều vấn đề nảy sinh chỉ thấy trƣớc mắt mà không gắn đƣợc với dài hạn hoặc chỉ thấy cục bộ mà không thấy đƣợc vai trò của cục bộ trong toàn bộ hoạt động của tổ chức. Chiến lƣợc tạo ra các căn cứ vững chắc cho tổ chức đề ra các quyết định phù hợp với sự biến động của môi trƣờng.
Nó tạo ra cơ sở vững chắc cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai, đầu tƣ phát triển, đào tạo bồi dƣỡng nhân sự, hoạt động mở rộng hoạt động. Trong thực tế phần lớn các sai lầm trong đầu tƣ, công nghệ,… đều 6 z xuất phát từ chỗ xây dựng chiến lƣợc hoặc có sự sai lệch trong xác định mục tiêu chiến lƣợc. Theo Mintzberg (1987) đã giải thích bốn lý do cơ bản giúp các nhà quản lý và các nhà khoa học hiểu rõ hơn vai trò của chiến lƣợc đối với mỗi tổ chức nói chung và đối với một tổ chức nói riêng. Tổ chức cần có chiến lƣợc bởi vì chiến lƣợc cho phép: - Xác lập định hƣớng dài hạn cho tổ chức, đây là vai trò cơ bản của chiến lƣợc, là xác định một hƣớng đi, một con đƣờng để hƣớng tới mục tiêu đã định.
Theo quan điểm này, nếu chiến lƣợc tốt, tổ chức có thể điểm xuất phát ở một vị thế yếu vẫn có thể đạt đƣợc mục tiêu đã định. Chandler (1962) đã khẳng định: “.nếu chiến lƣợc cơ bản là đúng đắn thì ngay cả với một số sai sót về mặt chiến thuật tổ chức vẫn đạt đƣợc các mục tiêu đã định”. Nhƣ vậy, tổ chức nào có chiến lƣợc tốt hơn sẽ là tổ chức thành công và vƣợt trội hơn tổ chức không có chiến lƣợc. - Tập trung các nỗ lực của tổ chức vào việc thực hiện các nhiệm vụ để đạt đƣợc mục tiêu mong muốn.
Trên cơ sở định hƣớng đề ra một chính sách hợp lý đối với mỗi tổ chức là xác định đƣợc cái mà mỗi thành viên trong tổ chức cần làm và cách thức là việc kết hợp để đạt hiệu quả cao nhất. - Xác định đƣợc phƣơng thức tổ chức và hành động định hƣớng các mục tiêu đề ra. Hoạt động của tổ chức mang tính tập thể, do vậy chiến lƣợc là cần thiết để xác định cách thức tổ chức liên kết các hoạt động. Chiến lƣợc là cần thiết để xác định đặc điểm, chỉ rõ tính chất về sự tồn tại cũng nhƣ tiền đồ của tổ chức; giúp các thành viên hiểu rõ vai trò, ý nghĩa của tổ chức và sự khác biệt với các tổ chức khác.
- Xây dựng tính vững chắc và hài hòa của tổ chức, một chiến lƣợc tối ƣu sẽ giúp cho tổ chức hạn chế bớt rủi ro, bất trắc đến mức thấp nhất, tạo điều kiện cho tổ chức ổn định lâu dài và phát triển không ngừng. Các yêu cầu của chiến lƣợc - Chiến lƣợc phải xác định rõ những mục tiêu cơ bản cần phải đạt đƣợc trong từng thời kỳ và cần quán triệt ở mọi cấp, mọi lĩnh vực hoạt động trong tổ chức hoặc trong cơ quan. 7 z - Chiến lƣợc phải bảo đảm huy động tối đa và kết hợp một cách tối ƣu việc khai thác và sử dụng các nguồn lực, nhằm phát huy đƣợc những lợi thế, nắm bắt những cơ hội để giành ƣu thế trong cạnh tranh. - Chiến lƣợc của tổ chức hay cơ quan đƣợc phản ánh trong một quá trình liên tục từ xây dựng đến thực hiện, đánh giá, kiểm tra, điều chỉnh chiến lƣợc.
- Chiến lƣợc đƣợc lập ra cho một khoảng thời gian tƣơng đối dài thƣờng là 3 năm, 5 năm hay 10 năm. Các cấp độ chiến lƣợc Có 3 cấp độ chiến lƣợc: Chiến lƣợc tổng thể của tổ chức; chiến lƣợc cấp đơn vị tác nghiệp và chiến lƣợc chức năng. - Chiến lƣợc tổng thể của tổ chức: Nó liên quan đến mục tiêu và quy mô tổng thể của của tổ chức, đáp ứng kỳ vọng của nhà chủ quản. Đây là cấp độ quan trọng, nó chịu ảnh hƣởng lớn từ nhà chủ quản của tổ chức và đồng thời nó hƣớng dẫn quá trình ra quyết định chiến lƣợc trong toàn bộ tổ chức.