Phần mở đầu. Phần thứ hai: Nội dung nghiên cứu. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận. Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng công tác quản lý NCKH tại trƣờng ĐHYHN.
Chƣơng 3: Xây dựng qui trình quản lý đề tài/dự án NCKH tại trƣờng ĐHYHN. Phần thứ ba: Kết luận và khuyến nghị. 10 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Các khái niệm cơ bản 1.
Khoa học Có nhiều định nghĩa về khoa học: - Khoa học đƣợc hiểu là hệ thống tri thức về mọi qui luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, tƣ duy [23]. - Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tƣợng, sự vật, qui luật của tự nhiên, xã hội và tƣ duy [34]. Hệ thống tri thức đƣợc hiểu là tri thức khoa học. Khác với tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học là những đƣợc hiểu biết đƣợc tích lũy một cách hệ thống nhờ hoạt động đƣợc vạch sẵn theo một mục tiêu xác định và đƣợc tiến hành dựa trên những phƣơng pháp khoa học.
Tri thức khoa học là sự tổng kết những tập hợp số liệu và sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc để khái quát hóa thành cơ sở lý thuyết về các liên hệ bản chất, nó đƣợc tổ chức trong khuôn khổ các bộ môn khoa học. - Khoa học là một hình thái ý thức xã hội, đƣợc hình thành và phát triển trong quá trình con ngƣời nhận thức và cải tạo tự nhiên, phát triển xã hội và tự hoàn thiện chính bản thân con ngƣời. Hoạt động nghiên cứu nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội, tƣ duy và bao gồm tất cả những điều kiện, những yếu tố của sự sản xuất này là: nhà khoa học, cơ quan khoa học, phƣơng pháp, thông tin khoa học [32]. Khoa học tập hợp những tri thức đã đƣợc nghiên cứu, đƣợc tích lũy, hệ thống hóa về qui luật tự nhiên, xã hội và tƣ duy.
Khoa học còn là tập hợp các phƣơng pháp, phƣơng tiện và lực lƣợng đƣợc ứng dụng và các quá trình nghiên cứu nhằm đạt đƣợc những kết quả thực tiễn. Với tƣ cách là hệ thống tri thức khoa học là một phần văn hóa nhân loại. Nghiên cứu khoa học Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đƣa ra những định nghĩa quan niệm về NCKH. Hoạt động NCKH nhằm hai mục đích cơ bản: Nhận thức thế giới và cải tạo thế giới.
Hai mục đích đó đƣợc thực hiện thông qua những chức năng cụ thể mô tả, giải thích, dự báo và sáng tạo. Một số định nghĩa tiêu biểu: 11 z - NCKH là một quá trình nghiên cứu hiện thực khách quan, phát hiện ra những hiểu biết mới mang tính qui luật, có tính chân lý hoặc tìm ra đƣợc những qui luật mới, chân lý mới trong hiện thực đó. - NCKH là hoạt động nhận thức có đặc trƣng tạo ra giá trị nhận thức mới trƣớc đó không ai biết, để giải quyết mâu thuẫn giữa một bên là những điều chƣa ai biết mới nảy sinh và một bên là những hiểu biết đã có. Những giá trị nhận thức mới đó sẽ giúp loài ngƣời đi sâu vào bản chất, qui luật thế giới và do đó nâng cao năng lực nhận thức và cải tạo thế giới của loài ngƣời và năng lực tập thể của xã hội.
NCKH có tác dụng bổ sung, hoàn chỉnh và phát triển khoa học [26]. - NCKH là hoạt động có mục đích, có kế hoạch đƣợc tổ chức chặt chẽ của nhà khoa học nhằm khám phá ra bản chất và qui luật của thế giới khách quan và vận dụng chúng vào cải tạo thế giới [44]. - NCKH là một hoạt động xã hội, hƣớng vào việc tìm kiếm những điều khoa học chƣa biết; hoặc là phát hiện bản chất của sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới hoặc là sáng tạo phƣơng pháp mới và phƣơng tiện kỹ thuật để cải tạo thế giới [23]. - NCKH là một hoạt động sáng tạo và phức tạp của các nhà khoa học nhằm nhận thức thế giới và cải tạo thế giới [38].
- NCKH là hoạt động phát hiện tìm hiểu các hiện tƣợng sự vật, qui luật tự nhiên, xã hội và tƣ duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vao thực tiễn. NCKH gồm NCCB, NCƢD, NCTK [34]. Từ các góc độ khác nhau, mỗi định nghĩa có nhấn mạnh một khía cạnh, làm nổi lên một trọng tâm làm cho việc nhận thức về NCKH trở nên sâu sắc hơn, có những điểm tƣơng đồng trong các định nghĩa trên về các đặc điểm của NCKH: - NCKH là một dạng hoạt động đặc biệt, đó là hoạt động nhận thức thế giới có tổ chức, có kế hoạch do các nhà khoa học thực hiện. - Đối tƣợng NCKH là những sự kiện, hiện tƣợng của thế giới khách quan mà loài ngƣời chƣa đủ kiến thức để giải thích.
- Mục đích NCKH là phát hiện ra bản chất và các qui luật vận động của thế giới vận dụng vào việc cải tạo thế giới phục vụ cho cuộc sống con ngƣời thông qua những chức năng cụ thể: mô tả, giải thích, dự báo và sáng tạo. 12 z - Sản phẩm của NCKH là hệ thống trí thức mới, hệ thống chân lý khách quan, đã đƣợc kiểm nghiệm bằng các phƣơng pháp khác nhau. - NCKH là hoạt động đƣợc tiến hành bằng một hệ thống các giải pháp, phƣơng pháp, thủ thuật với những phƣơng tiện kỹ thuật hỗ trợ. - Đặc điểm của NCKH: Tính mới, tính thông tin, tính rủi ro, tính tin cậy, tính khách quan, tính kế thừa, tính cá nhân và tính phi kinh tế.
Qua những đặc điểm trên cho thấy: NCKH là một dạng hoạt động đặc biệt, có tổ chức, có mục tiêu của các nhà khoa học đƣợc tiến hành bằng hệ thống phƣơng pháp, phƣơng tiện kỹ thuật hiện đại, nhằm phát hiện bản chất qui luật thế giới, sáng tạo ra hệ thống tri thức mới, hệ thống chân lý khách quan đƣợc vận dụng vào cải tạo thế giới phục vụ đời sống kinh tế xã hội của con ngƣời. Hoạt động KH&CN là sản xuất tri thức nó khác với các hoạt động sản xuất vật chất, nó có những đặc điểm: - Chuyển dịch khoa học (là đặc trưng quan trọng của phát triển KH&CN hiện đại); - Linh hoạt, uyển chuyển (do đặc điểm tự thân lao động KH&CN quyết định); - Độ tự do của bản thân lao động KH&CN. * Đề tài: Đề tài là một hình thức tổ chức NCKH đƣợc đặc trƣng bởi một nhiệm vụ NCKH và do một ngƣời hay một nhóm ngƣời thực hiện. Đề tài NCKH phải có các điều kiện: Sự vật cần nghiên cứu là vấn đề mới chƣa đƣợc biết đến, chƣa ai nghiên cứu hoặc chƣa ai công bố kết quả nghiên cứu.
Khi đề tài NCKH hoàn thành sẽ cung cấp những thông tin có giá trị khoa học về lý thuyết/ ứng dụng hoặc cả lý thuyết và ứng dụng. Đề tài NCKH có tính cấp thiết đối với lý luận và thực tiễn, phải có tính mới , khi giải quyết đƣợc đề tài sẽ làm cho khoa học phát triển, bổ sung vào kho tàng tri thức những thông tin mới. Có nhiều cách phân loại đề tài NCKH - Phân loại theo cấp quản lý: + Đề tài cấp Nhà nƣớc: là đề tài do cấp Trung ƣơng quản lý, cơ quan quản lý trực tiếp toàn diện là Bộ KH&CN. Các đề tài cấp Nhà nƣớc là những nhiệm vụ kế hoạch KH&CN có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, củng cố quốc phòng và nâng cao đời sống nhân dân.
13 z + Đề tài cấp Bộ: là đề tài do Bộ chủ quản/ cơ quan ngang Bộ trực tiếp quản lý toàn diện. Các đề tài cấp Bộ thực hiện những nhiệm vụ KH&CN có ý nghĩa quan trọng đối với các Bộ, Ngành, Tỉnh, Thành phố cần phải giải quyết nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sống của nhân dân và củng cố quốc phòng trong địa phƣơng. + Đề tài cấp Cơ sở: là đề tài do cơ sở trực tiếp quản lý. - Phân loại theo phạm vi tác động, mức độ đầu tƣ về kinh phí cho nghiên cứu: + Đề tài: định hƣớng vào việc trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học thuật, có thể chƣa quan tâm nhiều đến việc hiện thực hóa trong hoạt động thực tế.
- Phân loại theo đào tạo: + Luận án nghiên cứu sinh (tiến sỹ): Luận án tiến sỹ trình bày có hệ thống một vấn đề khoa học của nghiên cứu sinh để bảo vệ giành học vị tiến sỹ. + Luận văn thạc sỹ: Luận văn thạc sỹ trình bày có hệ thống một vấn đề khoa học của học viên cao học để bảo vệ giành học vị thạc sỹ. + Luận văn tốt nghiệp: là chuyên khảo tổng hợp sau khi kết thúc chƣơng trình đại học để bảo vệ lấy bằng tốt nghiệp đại học, nó đƣợc gọi là đề tài nghiên cứu khi đảm bảo những đặc trƣng của một công trình NCKH. (gọi là đồ án tốt nghiệp đối với những ngành nghiên cứu về khoa học kỹ thuật; luận văn cử nhân đối với những ngành nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn) - Phân loại theo tính chất sản phẩm NCKH Theo tính chất của sản phẩm NCKH, thông thƣờng, ngƣời ta phân chia NCKH thành 3 loại [23]: + Nghiên cứu cơ bản: là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật.
Kết quả nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn tới hình thành một hệ thống lý thuyết mới. Có nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu cơ bản định hƣớng (nghiên cứu nền tảng và nghiên cứu chuyên đề). + Nghiên cứu ứng dụng: là sự vận dụng quy luật đƣợc phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật hoặc tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp. 14 z + Triển khai thực nghiệm: gọi tắt là triển khai, là sự vận dụng các lý thuyết để đƣa ra các vật mẫu và công nghệ sản xuất vật mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật.
Nói đến nghiên cứu và triển khai là để nói nên một cách phân loại NCKH. Trong trƣờng hợp này NC&TK đƣợc phân loại theo các giai đoạn của NCKH. Hoạt động triển khai gồm 3 giai đoạn: - Tạo mẫu: Kết quả nghiên cứu tạo ra các vật mẫu hoặc các sản phẩm mẫu, thƣờng là đơn chiếc, có tính năng hoặc hiệu quả kinh tế - kỹ thuật vƣợt trội so với các sản phẩm cùng loại hiện hành. - Tạo quy trình: kết quả nghiên cứu tạo ra quy trình sản xuất mới.