phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục. Luận văn có nội dung chính gồm 03 chương, 8 tiết. Đề tài NCKH và quản lý đề tài NCKH 1. Đề tài NCKH Nhiệm vụ KH&CN là hình thức tổ chức thực hiện nghiên cứu khoa học, do một người hoặc một nhóm người cùng thực hiện.
Nhiệm vụ KH&CN có những hình thức tổ chức dưới các khái niệm Đề tài, Dự án, Chương trình, mỗi hình thức có mục đích khác nhau. - Đề tài NCKH là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học, trong đó có một nhóm người cùng thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu. Đề tài định hướng vào việc trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học thuật, chưa quan tâm nhiều đến việc hiện thực hóa trong hoạt động thực tế. - Đề tài NCKH là một nhiệm vụ khoa học và công nghệ nhằm phát hiện qui luật, mô tả, giải thích nguyên nhân vận động của sự vật, hiện tượng hoặc sáng tạo nguyên lý, những giải pháp, bí quyết, sáng chế,…được thể hiện dưới các hình thức: Đề tài nghiên cứu cơ bản, đề tài nghiên cứu ứng dụng, đề tài triển khai thực nghiệm hoặc kết hợp cả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm [5, tr.
- Dự án có mục đích ứng dụng xác định. Dự án có những đòi hỏi khác với đề tài, nó phải đáp ứng một nhu cầu đã được nêu ra, chịu sự ràng buộc của kỳ hạn và nguồn lực, thường là ràng buộc về nguồn lực. - Đề án là một loại văn kiện được xây dựng để trình một cấp quản lý hoặc một cơ quan tài trợ để xin được thực hiện một công việc nào đó, chẳng hạn, xin thành lập một tổ chức, xin cấp tài trợ cho một hoạt động xã hội nào đó. Sau khi một đề án được phê chuẩn, sẽ có có cơ sở để xác lập dự án, chương trình, đề tài hoặc những hoạt động kinh tế, xã hội theo yêu cầu của đề án.
15 z - Chương trình là một nhóm các đề tài hoặc dự án, được tập hợp theo một mục đích xác định. Giữa các đề tài, dự án thuộc một chương trình có thể có tính độc lập tương đối cao, nhưng phải đảm bảo cho sự đồng bộ của những nội dung của một chương trình. Các nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định trong Luật KH&CN, được tổ chức dưới hình thức chương trình, đề tài, dự án và các hình thức khác. Tuy nhiên, hai hình thức nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước thường hay được sử dụng nhất, kể cả các nhiệm vụ KH&CN thuộc chương trình KH&CN là đề tài và dự án SX-TN.
Đề tài được lựa chọn bắt đầu từ sự kiện khoa học, từ sự kiện khoa học dẫn đến nhiệm vụ nghiên cứu. Người nghiên cứu bắt đầu công việc cụ thể từ nhiệm vụ nghiên cứu. Sự kiện khoa học (Scientific fact) là điểm xuất phát của chủ đề nghiên cứu. Lựa chọn sự kiện khoa học là cơ sở để tìm kiếm chủ đề nghiên cứu.
Sự kiện khoa học là một sự vật hoặc hiện tượng có chứa đựng những vấn đề đòi hỏi giải thích bằng những tri thức khoa học và bằng những phương pháp quan sát hoặc thực nhiệm khoa học. Nhiệm vụ nghiên cứu là một chủ đề mà người nghiên cứu (hoặc nhóm nghiên cứu) thực hiện. Có nhiều nguồn nhiệm vụ: Chủ trương phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia được ghi trong các văn kiện chính thức của các cơ quan có thẩm quyền. Người nghiên cứu có thể tìm kiếm "thị trường" trong những nhiệm vụ thuộc loại này.
Nhiệm vụ được giao từ cơ quan cấp trên của cá nhân hoặc tổ chức nghiên cứu. Đối với nguồn nhiệm vụ thuộc loại này người nghiên cứu không có sự lựa chọn, mà phải làm theo yêu cầu. Nhiệm vụ được nhận từ hợp đồng với đối tác. Đối tác có thể là các doanh nghiệp hoặc tổ chức xã hội hoăc cơ quan chính phủ.
Nguồn này thường dẫn 16 z đến những nguồn thu nhập cao, tạo tiền đề phát triển nguồn lực nghiên cứu. Nhiệm vụ do người nghiên cứu tự đặt cho mình xuất phát từ ý tưởng khoa học của bản thân người nghiên cứu. Khi có điều kiện (chẳng hạn về kinh phí) thì người nghiên cứu biến ý tưởng đó thành một đề tài nghiên cứu [4, tr. Việc lựa chọn đề tài có thể dựa trên những căn cứ sau: Đề tài có ý nghĩa khoa học hay không? Ý nghĩa khoa học thể hiện trên những khía cạnh như bổ sung những nội dung lý thuyết của khoa học; làm rõ một số vấn đề lý thuyết vốn tồn tại hoặc xây dựng cơ sở lý thuyết mới.
Đề tài có ý nghĩa thực tiễn hay không? Trong khoa học không phải đề tài nào cũng mang ý nghĩa thực tiễn, nhất là trong nghiên cứu cơ bản thuần tuý. Tuy nhiên, tiêu chuẩn này phải luôn được xem xét, nhất là trong điều kiện kinh phí eo hẹp. Ý nghĩa thực tiễn thể hiện trong việc xây dựng luận cứ cho các chương trình phát triển kinh tế và xã hội; nhu cầu kỹ thuật của sản xuất; nhu cầu về tổ chức, quản lý, thị trường, v. Đề tài có cấp thiết phải nghiên cứu hay không? Tính cấp thiết thể hiện ở mức độ ưu tiên giải đáp những nhu cầu lý thuyết và thực tiễn đã được xem xét.
Tính cấp thiết là một yêu cầu bổ sung đối với tính khoa học và tính thực tiễn. Nếu chưa cấp thiết thì dành kinh phí và quỹ thời gian cho những hướng nghiên cứu cấp thiết hơn. Có đủ điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành đề tài hay không? Đề tài dù có nhiều ý nghĩa khoa học, thực tiễn, cấp thiết nhưng không có phương tiện thì cũng khó lòng thực hiện. Điều kiện nghiên cứu bao gồm nhân lực, cơ sở thông tin, tư liệu, thiết bị thí nghiệm (nếu cần tiến hành thí nghiệm); quỹ thời gian, v.
Đề tài có phù hợp sở thích không? Trong khoa học thì câu hỏi này luôn 17 z mang một ý nghĩa quan trọng. Đương nhiên, bao giờ người nghiên cứu cũng luôn phải đứng trước sự lựa chọn giữa nguyện vọng cá nhân với giải quyết nhu cầu bức bách của xã hội và khả năng đáp ứng của các nguồn lực. Trong quá trình thực hiện một đề tài, khách thể nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, đối tượng khảo sát là những khái niệm công cụ luôn được sử dụng. Khách thể nghiên cứu là hệ thống sự vật tồn tại khách quan trong các mối liên hệ mà người nghiên cứu cần khám phá, là vật mang đối tượng nghiên cứu.
Khách thể nghiên cứu chính là nơi chứa đựng những câu hỏi mà người nghiên cứu cần tìm câu trả lời. Đối tượng nghiên cứu là bản chất sự vật hoặc hiện tượng cần được xem xét và làm rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu. Đối tượng khảo sát là một bộ phận đủ đại diện của khách thể nghiên cứu được người nghiên cứu lựa chọn để xem xét. Không bao giờ người nghiên cứu có đủ quỹ thời gian và kinh phí để khảo sát trên toàn bộ khách thể.
Phạm vi nghiên cứu. Không phải đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát được xem xét toàn diện trong một thời gian, mà nó được giới hạn trong một phạm vi nhất định: Phạm vi về quy mô của đối tượng; phạm vi về không gian của sự vật; phạm vi thời gian của tiến trình sự vật. Quản lý đề tài NCKH Quản lý được định nghĩa khác nhau dựa trên cơ sở tiếp cận khác nhau: - Quản lý được định nghĩa là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định [17, tr. - Theo Frederic Winslow Taylor (1856-1915), người được coi là cha đẻ của khoa học quản lý hiện đại, quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một 18 z cách tốt nhất và rẻ nhất.
Theo Mary Parker Follet (1868-1933), nhà khoa học chính trị, nhà triết học Mỹ, quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác. Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng, quản lý là một quá trình kỹ thuật xã hội nhằm sử dụng các nguồn lực tác động vào hoạt động của con người, nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức.Fayol, một tác giả người Pháp được coi là F.Taylor của châu Âu, cho rằng quản lý là quá trình dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra [12, tr. - Quản lý là một hoạt động thực tiễn đặc biệt cuả con người, trong đó, các chủ thể tác động lên các đối tượng bằng các công cụ và phương pháp khác nhau, thông qua quy trình quản lý nhất định, nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong các điều kiện biến động của môi trường. Quản lý NCKH là hệ thống hoạt động của các chủ thể quản lý trong lĩnh vực khoa học lập kế hoạch, xây dựng định hướng trong nghiên cứu, triển khai kế hoạch NCKH đã đề ra, kiểm tra tiến độ công việc, kết quả nghiên cứu, đánh giá chất lượng, hiệu quả trong NCKH.
Quản lý đề tài NCKH trong trường đại học là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hoạt động NCKH đạt được mục tiêu mong muốn. Thực chất của quản lý đề tài NCKH là thực hiện quy trình quản lý chất lượng nghiên cứu, làm cho các NCKH đáp ứng mục tiêu đã định của chủ thể quản lý và chủ trì đề tài. Quy trình quản lý và thực hiện quy trình quản lý đề tài NCKH 1. Quy trình quản lý đề tài NCKH Khái niệm về quy trình theo “Đại từ điển Tiếng Việt”: “Quy” là qui định; “Trình” là trình tự; quy trình đó là một loạt những qui định, hướng dẫn chi tiết 19 z giúp cho việc thực hiện một việc theo một trình tự thống nhất.
Trong thực tế rất hay gặp các cụm từ liên quan đến quy trình: quy trình sản xuất, quy trình xây dựng, quy trình đào tạo, quy trình đánh giá nội bộ. Quy trình giúp cho người thực hiện công việc biết rằng trong một nghiệp vụ thì họ phải tiến hành những bước công việc nào, làm ra sao và phải cần đạt kết quả như thế nào? Quy trình quản lý là các bước phải tuân theo để thực hiện các mục tiêu xác định.