CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA MOI QUAN HỆ LIÊN KET VIỆN NGHIÊN CỨU VỚI ĐỊA PHƯƠNG 1. Hệ thống khái niệm 1. Nghiên cứu khoa học Khái niệm “khoa học”: Theo Luật KH&CN sửa đổi 2013 “Khoa hoc là hệ thong tri thức về bản chat, quy luật ton tai va phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội va tu duy”’. ” Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới,.
về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức mới này tốt hơn, có thê thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp. Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chat, những quy luật của tự nhiên, xã hội va tu duy. Những tri thức nay chính là tri thức khoa học.
Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích luỹ một cách có hệ thống nhờ hoạt động NCKH, các hoạt động này có mục tiêu xác định va sử dụng phương pháp khoa học. Tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Khái niệm “nghiên cứu khoa học”: Theo Luật KH&CN sửa đổi 2013 “NCKH là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật cua sự vật, hiện trượng tự nhiên, xã hội và tu duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa hoc bao gốm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ung dụng ”.
NCKH là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là phát hiện ra bản chất của sự vật, phát triển nhận thức 14 khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới đê làm biên đôi sự vật phục vụ mục tiêu hoạt động của con người. Có thể nói, NCKH là sự tìm tòi, khám phá trong một thế giới hoàn toàn chưa được biết đến, và kết quả tìm kiếm ra sao cũng không thể dự kiến trước một cách chi tiết. Chính vi vậy, trong NCKH, mỗi người nghiên cứu cần đưa ra một hoặc một số nhận định sơ bộ về kết quả cuối cùng của nghiên cứu, gọi đó là giả thuyết nghiên cứu, hay giả thuyết khoa học. Gia thuyết nghiên cứu hay giả thuyết khoa học là phán đoán về ban chất đối tượng nghiên cứu.
Theo phán đoán này, người nghiên cứu tiếp tục đi tìm kiếm các luận cứ để chứng mình. Rất có thể kết quả nghiên cứu sẽ xác nhận giả thuyết khoa học đặt ra ban đầu là đúng. Khi đó, người nghiên cứu khang định được một luận điểm khoa học của mình. Nhưng rất có thê kết quả nghiên cứu sẽ phủ định hoan toàn phán đoán ban đầu, tức giả thuyết khoa học bị bác bỏ.
Rốt cuộc, toàn bộ quá trình NCKH chăng qua là quá trình tìm kiếm các luận cứ dé chứng minh hoặc bác bỏ giả thuyết khoa học, tức luận dié khoa học của tác giả. Đặc điểm của nghiên cứu khoa học: NCKH hướng vào việc tìm kiếm những điều chưa biết. Đây là đặc điểm chung nhất của hoạt động NCKH. Chính đặc điểm này đã dẫn đến hàng loạt những đặc điểm khác của NCKH mà người nghiên cứu cũng như các nhà quản lý nghiên cứu cần quan tâm khi xử lý những vấn đề cụ thể về mặt phương pháp luận nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu.
Các đặc điểm này là những căn cứ quan trọng được sử dụng để xây dựng các chỉ tiêu đánh giá xét duyệt cũng như nghiệm thu các DT/DA KH&CN. Các đặc điểm của NCKH theo PGS. TS Vũ Cao Đàm (2005) được thê hiện dưới đây: + Tính mới: Vì khoa học luôn hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, cho nên quá trình NCKH là quá trình hướng tới những phát hiện mới, sáng tạo mới. Do đó tính mới là thuộc tính quan trọng nhất của NCKH.
15 + Tính tin cậy: Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần trong những điều kiện hoàn toàn giống nhau cho kết quả thu được hoàn toàn giống nhau. Một kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đã đặt ra trước đó cũng chưa thé xem là đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật, hiện tượng. Do vậy, khi trình bày một kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu cần chỉ rõ những điều kiện, nhân tô và phương tiện thực hiện. Nguyên tắc này mang tính chung cho cả khoa học tự nhiên, KHKT, KHXH&NV.
+ Tính khách quan: Tính khách quan vừa là đặc điểm của NCKH, vừa là một tiêu chuẩn về phâm chat của người nghiên cứu khoa học. Trong xã hội khoa học người ta xem đó là một chuân mực giá trỊ. + Tính thông tin: Sản pham của NCKH được thé hiện dưới nhiều dang như: báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, một mẫu vật liệu mới, mẫu sản pham mới, mô hình thí điểm, giải pháp mới,. Tuy nhiên trong tat cả các dạng thể hiện trên sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin.
Đó là những thông tin về quy luật vận động của sự vật, thông tin về quy trình công nghệ, tính năng của sản phâm mớối,. + Tính rủi ro: Rui ro là bat cứ điều gì không chắc chắn có thé ảnh hưởng tới các kết quả của chúng ta so với những gì chúng ta mong đợi. Nó là hiện tượng bất ngờ, lệnh so với dự tính hay năm ngoài khả năng dự tính của con người, và nó có kha năng đem tới cho con người những tổn thất nhất định nếu không được kiểm soát kịp thời và đúng hướng. Khám phá bản chất sự vật và sáng tạo ra sự vật mới là một quá trình có thé thất bại, đó là tính rủi ro trong NCKH.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro có nhiều dạng như do thiếu thông tin, trình độ, năng lực thiết bị, năng lực người nghiên cứu còn hạn chế,. Tuy nhiên trong NCKH, thất bại cũng được xem là một kết quả. 16 + Tính kế thừa: mỗi nghiên cứu thường phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, thậm chí trong những lĩnh vực khoa học khác xa nhau. + Tính cá nhân: dù là một công trình NCKH do một tập thé thực hiện thi vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định.
Tính các nhân được thê hiện trong tư duy cá nhân và chủ kiên riêng của cá nhân. + Tính tré trong áp dụng: Một kết quả nghiên cứu thường không được áp dụng ngay, mà phải qua một thời gian nhất định. Thời gian giãn cách từ khi kết quả nghiên cứu thành công đến khi áp dụng được gọi là độ trễ. Dé đưa ra một kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu phải trả qua một quá trình nghiên cứu có thê là rất dài, khoảng thời gian để nghiên cứu có thể làm cho van đề nghiên cứu ấy không còn bức thiết nữa.
Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu thường không thé áp dụng ngay vào sản xuất và đời sống được. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này như điều kiện kinh tế, tâm lý xã hội, văn hoá,. + Tính phi kinh tế: lao động NCKH rat khó định mức một cách chính xác. Những thiết bị chuyên dụng cho NCKH hau như không thé khấu hao (tần suất sử dụng không ồn định và hầu như rất thấp, tốc độ hao mòn vô hình luôn vượt trước rất xa so với tốc độ hao mòn hữu hình, hiệu quả kinh tế của NCKH hầu như không thể xác định).
Phân loại nghiên cứu khoa học: - Theo các giai đoạn cua nghiên cứu: Nghiên cứu cơ bản (basic research), là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái của các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật với các sự vật khác. Nghiên cứu ứng dụng (experimental research), là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản dé giải thích một sự vật, tao ra những nguyên lý mới về các giải pháp và ứng dụng chúng vào sản xuât và đời sông. 17 Triển khai (experimental development), còn gọi là triển khai thực nghiệm, là sự vận dụng các lý thuật dé đưa ra các hình mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật. - Theo chức năng nghién cứu: Nghiên cứu mô tả, là nghiên cứu nhằm đưa ra một hệ thống tri thức về nhận dạng sự vật, giúp phân biệt được sự khác nhau về bản chất giữa sự vật này với sự vật khác.
Nghiên cứu giải thích, là nghiên cứu nhằm làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự hình thành và quy luật chi phối quá trình vận động của sự vật. Nghiên cứu giải pháp, là nghiên cứu nhăm đưa ra một sự vật mới chưa từng ton tại. Nghiên cứu dự báo, là những nghiên cứu nhằm nhận dang trang thái của sự vật trong tương lai. > Ca hai cách phân loại trên đều đúng.
Theo cách phân loại thứ nhất (phân loại theo giai đoạn nghiên cứu) đề tài này thuộc nghiên cứu ứng dụng có nghĩa là vận dụng các lý thuyết đã được chứng minh (chính là các quy luật đã được phát hiện ra trong nghiên cứu cơ bản) để giải thích về quan hệ liên kết nghiên cứu trong NCKH tạo ra những nguyên lý mới về giải pháp phát triển quan hệ này theo định hướng nhu cầu và ứng dụng chúng vào phát triển quan hệ liên kêt nghiên cứu giữa viện nghiên cứu với địa phương thông qua các dự án. Với cách phân loại thứ hai (theo chức năng nghiên cứu): dé tài này thuộc nghiên cứu giải pháp, là nghiên cứu nhằm tìm ra quan hệ liên kết mới theo định hướng nhu cầu — chưa từng ton tại. Khái niệm đề tài/dự án - Đề tài/ dự án: 18 Theo PGS. TS Vũ Cao Dam, “dé tai là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học, trong đó có một nhóm người cùng thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu ”.
Đề tài định hướng vào việc trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học thuật, có thể chưa quan tâm nhiều đến việc hiện thực hoá trong hoạt động thực tế. Dự án là một loại đề tài có mục đích ứng dụng xác định, cụ thé về kinh tế và xã hội. Dự án có những đòi hỏi khác đề tài như: đáp ứng một nhu cầu đã được nêu ra, chịu sự ràng buộc của kỳ hạn và thường là ràng buộc về nguôn lực. Một dự án là một chuỗi những hành động nhằm thực hiện được những mục tiêu rõ ràng đã được xác định trước trong một khoảng thời gian xác định và với một nguồn ngân sách xác định.