CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về tín dụng 1.1 Khái niệm Tín dụng được coi là mối quan hệ lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay trong điều kiện có hoàn trả gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Hay nói cách khác: tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân hoặc một tổ chức chuyển giao một giá trị cho một cá nhân hoặc một tổ chức khác với những rằng buộc nhất định về thời gian hoàn trả, lãi suất, cách vay mượn và thu hồi. (Nguyễn Văn Tiến, 2009) Riêng đối với hoạt động ngân hàng, tín dụng được hiểu cụ thể là “Quan hệ tín dụng bằng tiền tệ mà một bên là ngân hàng – một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh v ực tiền tệ – với một bên là tất cả các cá nhân, các tổ chức trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay”. (Nguyễn Văn Tiến, 2009, tr.343) - Với tư cách người đi vay: ngân hàng huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội bằng hình thức nhận tiền gởi từ các cá nhân, tổ chức hoặc phát hành các chứng chỉ tiền gởi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội.
- Với tư cách là người cho vay: ngân hàng đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu về vốn nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh, hoạt động tiêu dùng. Bất kỳ sự chuyển giao quyền sử dụng tạm thời nào (có hoàn trả) về tài sản đều phản ánh quan hệ tín dụng, trong đó mối quan hệ được thể hiện dưới các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, bao thanh toán, cho thuê tài chính và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (Luật Các Tổ Chức Tín Dụng 47/2010/QH12). Như vậy, nội dung tín dụng là rộng hơn nội dung cho vay, tuy nhiên trong hoạt động tín dụng, thì cho vay là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các NHTM. Vì vậy, đề tài này chỉ tập trung đi sâu vào phân tích đối với hoạt động cho vay của Navibank, thuật ngữ “tín dụng” ở đây cũng được dùng để chỉ hoạt động cho vay.2 Các hình thức tín dụng Hoạt động tín dụng tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, được phân loại theo những tiêu thức khác nhau.
Dưới đây là một số cách phân chia mà các ngân hàng thương mại thường sử dụng để phân tích và đánh giá, căn cứ trên Quyết định 1627/2001/QĐ- NHNN của NHNN về việc “Ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng” và Quyết định 783/2005/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung quyết định 1627.1 Phân loại theo thời hạn cho vay Theo cách này tín dụng được phân thành 3 loại: - Cho vay ngắn hạn: là khoản tín dụng đến 12 tháng và được sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp, cũng có thể được cấp phục vụ cho các nhu cầu cá nhân. - Cho vay trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng, thường được dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải tiến kỹ thuật, mở rộng và xây dựng công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh. - Cho vay dài hạn: là khoản tín dụng có thời gian từ trên 60 tháng trở lên. Loại tín dụng này được dùng để cung cấp vốn cho một số hoạt động của doanh nghiệp như: đầu tư xây dựng cơ bản; cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.2 Phân loại theo mục đích sử dụng vốn Theo tiêu thức này thì tín dụng được phân chia rất đa dạng và phong phú.
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay phục vụ cho việc mua sắm và xây dựng bất động sản, nhà ở, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp thương mại và dịch vụ. - Cho vay công thương nghiệp: là loại hình cho vay dành cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ để bổ sung vốn lưu động. - Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay hỗ trợ trang trải các chi phí sản xuất như phân bón, con giống…cũng như công tác bảo quản sản phẩm. - Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay đáp ứng các nhu cầu mua sắm hàng hóa tiêu dùng như mua sắm xe hơi, nhà, trang thiết bị trong nhà… 5 1.3 Phân loại theo đối tượng khách hàng - Cho vay cá nhân: là hình thức cấp tín dụng nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn của cá nhân như trang trãi chi phí thông thư ờng, mua ô tô, bất động sản hoặc các nhu cầu khác như du học.
- Cho vay doanh nghiệp: là hình thức cho vay mà đối tượng khách hàng là các tổ chức, doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh để phục vụ cho các nhu cầu vốn như tăng vốn lưu động, mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơ sở, đầu tư công nghệ mở rộng hoạt động kinh doanh… - Cho vay các tổ chức tài chính: đây là các khoản tín dụng cấp cho các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác. Bên cạnh đó còn có một số hình thức cấp tín dụng khác do mỗi ngân hàng cung cấp tuỳ thuộc vào tình hình hoạt động riêng của các ngân hàng.2 Chất lượng tín dụng và các chỉ tiêu đánh giá 1.1 Khái niệm về chất lượng tín dụng Chất lượng tín dụng là 1 khái niệm vừa cụ thể (thể hiện qua các chỉ tiêu định lượng), vừa trừu tượng (thông qua các chỉ tiêu định tính như khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế). Chất lượng tín dụng chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan (như sự thay đổi của môi trường kinh tế, ý thức chủ quan của khách hàng…) và chủ quan (như khả năng quản lý tín dụng, trình đ ộ cán bộ tín dụng, quy chế tín dụng của mỗi ngân hàng…). Để có thể hiểu rõ khái niệm “chất lượng tín dụng”, trước hết ta cần tìm hiểu qua khái niệm về “chất lượng”.
Tuỳ theo đối tượng sử dụng mà từ “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau. Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hoá ISO đã đưa ra đ ịnh nghĩa về chất lượng như sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình đ ể đáp ứng yêu cầu của khách hàng và của các bên liên quan” (Tổng Cục Tiêu Chuẩn Đo Lường Chất Lượng Việt Nam – www. 6 Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thoả mãn những nhu cầu cụ thể. Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan.
Với cách đề cập như vậy thì “chất lượng tín dụng” có thể được hiểu là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của ngân hàng và sự phát triển kinh tế xã hội. Khi xem xét về chất lượng tín dụng ta cũng c ần phải dựa trên quan điểm của các bên có liên quan, mà ở đây cụ thể là giữa ngân hàng thương mại (người cung cấp sản phẩm) và khách hàng, bao gồm các cá nhân, tổ chức kinh tế (người có nhu cầu về sản phẩm). - Đối với ngân hàng: chất lượng tín dụng được xem xét ngay từ quy trình cho vay bên cạnh một số chỉ tiêu như dư nợ cho vay, tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu, thu nhập lãi… Tổng quát hơn, chất lượng tín dụng thể hiện ở sự tương thích giữa hoạt động cho vay với năng lực bản thân ngân hàng, đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi đúng kỳ hạn, đảm bảo được độ an toàn cho hoạt động ngân hàng cũng như phù hợp với những quy định của Nhà nước. - Đối với khách hàng: chất lượng tín dụng là sự thỏa mãn nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp với lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản nhưng vẫn đảm bảo theo các nguyên tắc tín dụng.
- Đối với nền kinh tế: chất lượng tín dụng thể hiện ở sự đóng góp tích cực cho sự phát triển của nền kinh tế thông qua hoạt động của các doanh nghiệp như góp phần đẩy mạnh hoạt động sản xuất, đáp ứng nhu cầu về lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống người dân… 1.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Để phản ánh về chất lượng tín dụng, có rất nhiều chỉ tiêu, nhưng nhìn chung các ngân hàng thường quan tâm đến hệ thống các chỉ tiêu định lượng sau đây (Nguyễn Văn Tiến, 2009, tr.1 Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng tín dụng Tổng dư nợ năm sau Tốc độ tăng trưởng tín dụng = −1 Tổng dư nợ năm trước 7 Đây là chỉ tiêu cơ bản thường được sử dụng phổ biến trong công tác điều hành, đánh giá đối với hoạt động tín dụng của các NHTM cũng như NHNN, ph ản ánh mức độ gia tăng tổng dư nợ cho vay của ngân hàng trong một thời kỳ. Chỉ tiêu này càng cao cho thấy được lượng vốn cung ứng cho nền kinh tế càng nhiều, dư nợ cho vay không ngừng tăng cao, hoạt động cho vay vì vậy càng mở rộng và phát triển, mang lại nguồn thu lớn cho hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, chỉ tiêu này thường được giới hạn bởi một mức cho phép, tùy chính sách tiền tệ của NHNN cũng như chính sách tín d ụng, năng lực tài chính của từng ngân hàng trong từng thời kỳ. Tốc độ tăng trưởng không ngừng tăng cao, gây nên tình trạng tăng trưởng nóng, nhưng lại không phù hợp với khả năng huy động vốn của ngân hàng, các khoản tín dụng kém chất lượng, khả năng thu hồi thấp, dài lâu gây nguy hại đến khả năng thanh khoản của ngân hàng là những mặt trái mà các ngân hàng có thể gặp phải.
Vì vậy, người ta thường sử dụng thêm chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn để đánh giá sự cân đối giữa hoạt động huy động và hoạt động cho vay, nhằm bảo đảm sự an toàn cho hoạt động của ngân hàng.2 Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn Tổng dư nợ tín dụng Hiệu suất sử dụng vốn = Tổng số vốn huy động Chỉ tiêu này được dùng để đo lường sự cân đối giữa đầu vào là hoạt động huy động vốn và đầu ra là hoạt động cho vay.