CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng.
Tại Việt Nam, theo Luật các Tổ chức tín dụng, tại khoản 3 điều 4 qui định: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Các hoạt động cơ bản của NHTM [12] - Hoạt động huy động vốn: Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận (theo khoản 13, Điều 4 của luật Tổ chức các tín dụng). - Hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (theo khoản 14, Điều 4 của luật Tổ chức các tín dụng). NHTM được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau: - Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dích vụ và đời sống.
- Cho vay trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. NHTM được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá khác đối với các tổ chức chức tín dụng khác. Tái chiết khấu là việc mua lại thương phiếu, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán. Cho thuê tài chính (Financial leasing): là hoạt động tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là các tổ chức tín dụng đối với khách hàng thuê.
Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê. Trong thời hạn cho thuê, các bên không được đơn phương huỷ bỏ hợp đồng. Đây là loại hình tín dụng mới được triển khai ở Việt Nam và có khả năng phát triển mạnh trong tương lai. Bao thanh toán: Là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (khoản 17, Điều 4 của luật Tổ chức các tín dụng).
Bảo lãnh ngân hàng (Bank guarantee): Theo khoản 18 Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng: Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách 8 hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận. Theo đó, NHTM được bảo lãnh dưới nhiều hình thức khác nhau như: bảo lãnh cho vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bão lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với bên nhận bảo lãnh. Mức bảo lãnh đối với 1 khách hàng và tổng mức bảo lãnh của 1 NHTM không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của NHTM. Hoạt động tín dụng của NHTM 1.
Khái niệm, đặc điểm của tín dụng ngân hàng 1. Khái niệ m - Khái niệm tín dụng: Có rất nhiều quan niệm khác nhau về tín dụng, tuy nhiên theo Các-Mác, “Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng và sau một thời gian nhất định được quay trở lại người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn ban đầu”[1] Tín dụng được cấu thành từ sự kết hợp của 3 yếu tố chính là: + Quan hệ chuyển nhượng này mang tính tạm thời hoặc có thời hạn. + Tính hoàn trả có kèm theo chi phí. + Quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở tin tưởng giữa người đi vay - cho vay.
- Khái niệm tín dụng ngân hàng: Từ quan niệm về tín dụng, có thể đưa ra một quan niệm chung về tín dụng ngân hàng như sau: Tín dụng ngân hàng là một quan hệ kinh tế giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó ngân hàng chuyển giao tiền hay tài sản cho khách hàng trong một thời gian nhất định với những thoả thuận hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định giữa khách hàng và ngân hàng. Đặ c điể m Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn. Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn hay có tính hoàn trả.
Ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. 9 Thứ ba, tín dụng phải trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Nếu không có sự hoàn trả thì không được coi là tín dụng.Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (giá trị gốc). Thứ tư, tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng.
Việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng, mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thị trường, thiên tai… Thứ năm, tín dụng phải trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Quá trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng tín dụng, khế ước vay tiền, hợp đồng bảo đảm tiền vay, bảo lãnh…, trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn. Nguyên tắc tín dụng Từ các khái niệm trên cho thấy, tín dụng ngân hàng phải đảm bảo được hai nguyên tắc có bản sau: - Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích. Việc sử dụng vốn vay vào mục đích gì do hai bên, ngân hàng và khách hàng thỏa thuận và ghi vào trong hợp đồng tín dụng.
Đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích thỏa thuận nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng thu hồi nợ sau này. - Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng. Hoàn trả gốc và lãi vốn vay là 1 nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động cho vay. Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay.
Đại đa số nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay là vốn huy động từ khách hàng gửi tiền, do đó, sau khi cho vay trong 1 thời hạn nhất định khách hàng vay tiền phải hoàn trả lại cho ngân hàng để ngân hàng trả lại cho khách hàng gửi tiền. Hơn nữa, bản chất tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn vay nên sau 1 thời gian nhất định vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi. Các hình thức tín dụng ngân hàng [8] 1. Căn cứ theo thờ i hạ n tín dụ ng - Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn từ 12 tháng trở xuống, thường được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
10 - Tín dụng trung hạn: có hạn trên 12 tháng đến 60 tháng. Loại hình tín dụng này chủ yêu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ. - Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên 60 tháng. Loại hình tín dụng này chủ yếu để đáp áp nhu cầu dài hạn như: xây dựng nhà xưởng, các thiết bị phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Đây là loại tín dụng có mức rủi ro rất cao. Căn cứ theo mứ c độ tín nhiệ m vớ i khách hàng - Tín dụng không có đảm bảo: là loại hình không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. - Tín dụng có đảm bảo: là loại hình tín dụng mà khi cho vay đòi hỏi người vay vốn phải có tài sản thể thấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba. Căn cứ theo xuấ t xứ tín dụ ng - Tín dụng trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho những khách hàng có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Tín dụng gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ được phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Các hình thức này gồm có: chiết khấu, mua lại các phiếu bán hàng, nghiệp vụ thanh lý. Căn cứ theo phư ơ ng thứ c cho vay - Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng tiến hành thực hiện những thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. Phương thức này áp dụng với những khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, sản xuất không ổn định, kinh doanh theo thời vụ, thương vụ.