phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2:Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam- Chi nhánh Thăng Long. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam- Chi nhánh Thăng Long trong thời gian tới. Luan van 4 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
KHÁI NIỆM VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI, RỦI RO VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại, và phân loại các hoạt động của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) là một trung gian tài chính có chức năng dẫn vốn từ nơi có khả năng cung ứng vốn đến những nơi có nhu cầu về vốn nhằm tạo điều kiện cho đầu tƣ, phát triển kinh tế. Đây là hình thức tài chính gián tiếp chiếm 2/3 tổng lƣu chuyển vốn trên thị trƣờng tài chính.
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đƣợc Quốc Hội khoá 12 thông qua và có hiệu lực từ ngày 16/06/2010 thì: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận (Khoản 3, Điều 4) Cũng theo Luật các tổ chức tín dụng : Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này (Khoản 2, Điều 4) Nhƣ vậy điểm quan trọng ở đây là cần làm rõ hoạt động ngân hàng là gì. Hoạt động của ngân hàng bao gồm các hoạt động nhƣ hoạt động huy động vốn; hoạt động tín dụng; hoạt động cung cấp dịch vụ thanh toán và các hoạt động khác. Để thấy rõ điều này, phần dƣới đây sẽ nghiên cứu về các hoạt động của ngân hàng thƣơng mại. Phân loại các hoạt động của Ngân hàng thương mại Hoạt động huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM, là hoạt động đóng vai trò quan trọng ảnh hƣởng tới chất lƣợng hoạt động của ngân hàng.
NHTM thƣờng huy động vốn dƣới các hình thức nhƣ: (i) Nhận tiền gửi của tổ chức, Luan van 5 cá nhân và các tổ chức tín dụng (TCTD) khác dƣới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại các tiền gửi khác; (ii) Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc; (iii) Vay vốn của các TCTD khác hoạt động tại Việt Nam và các tổ chức nƣớc ngoài; (iv)Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng nhà nƣớc.; (v)Các hình thức huy động khác theo quy định của Ngân hàng nhà nƣớc. Hoạt động tín dụng: Ngân hàng đƣợc cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dƣới các hình thức cho vay, chiết khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN. Trong các hoạt động tín dụng, cho vay là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất. - Cho vay: Ngân hàng thƣơng mại đƣợc cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dƣới các hình thức nhƣ: (i) Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống…(ii) Cho vay trung dài hạn để thực hiện các dự án đầu tƣ phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống… - Bảo lãnh: Ngân hàng thƣơng mại đƣợc bảo lãnh cho vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác theo đúng quy định của pháp luật bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với ngƣời nhận bảo lãnh.
- Chiết khấu: Ngân hàng thƣơng mại đƣợc chiết khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác. - Cho thuê tài chính: Ngân hàng thƣơng mại đƣợc hoạt động cho thuê tài chính nhƣng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Việc tổ chức, thành lập hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo nghị định của chính phủ về tổ chức hoạt động của công ty cho thuê tài chính. Cung cấp dịch vụ thanh toán: Để thực hiện đƣợc các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng, NHTM đƣợc mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nƣớc.
Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua NHNN, NHTM phải mở tài khoản tại NHNN nơi NHTM đặt trụ sở chính Luan van 6 và duy trì tại đó số dƣ tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định. Ngoài ra chi nhánh của NHTM đƣợc mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố nơi chi nhánh NHTM đặt trụ sở. Hoạt động thanh toán của ngân hàng bao gồm: (i) Cung cấp các phƣơng tiện thanh toán; (ii) Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nƣớc cho khách hàng; (iii) Thực hiện các dịch vụ chi hộ và thu hộ; (iv) Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN; (v)Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế đƣợc NHNN cho phép; (vi) Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng; (vii) Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên NHNN. Các hoạt động khác: Ngoài các hoạt động ở trên, NHTM còn có thể thực hiện một số hoạt động khác dƣới đây: - Góp vốn và mua cổ phần: Ngân hàng thƣơng mại đƣợc dùng vốn điều lệ và vốn dự trữ để góp vốn và mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác trong nƣớc theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra Ngân hàng thƣơng mại còn đƣợc góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nƣớc ngoài để thành lập ngân hàng liên doanh. - Tham gia thị trường tiền tệ: Ngân hàng thƣơng mại đƣợc tham gia thị trƣờng tiền tệ theo quy định của Ngân hàng nhà nƣớc thông qua các hình thức mua bán các công cụ của thị trƣờng tiền tệ. - Kinh doanh ngoại hối: Ngân hàng thƣơng mại đƣợc phép kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế. - Ủy thác và nhận ủy thác: Các cá nhân và doanh nghiệp nhờ ngân hàng quản lí tài sản, quản lí tài chính hộ thậm chí là uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tƣ… Bên cạnh đó các ngân hàng còn đƣợc coi nhƣ những chuyên gia tƣ vấn tài chính hỗ trợ các khách hàng trong việc ra các quyết định kinh tế.
- Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: Ngân hàng có thể tổ chức ra công ty chứng khoán độc lập hoặc tự mình bán các dịch vụ môi giới chứng khoán Luan van 7 cho khách hàng. - Cung cấp dịch vụ bảo hiểm: Ngân hàng có thể liên doanh với các công ty bảo hiểm, tổ chức các công ty bảo hiểm con hoặc cung cấp các dịch vụ tiết kiệm gắn với bảo hiểm tiết kiệm an sinh, tiết kiệm hƣu trí… - Cung cấp các dịch vụ đại lí: Nhiều ngân hàng cung cấp dịch vụ đại lí cho các ngân hàng khác nhƣ thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ. Rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thƣơng mại - Khái niệm về rủi ro Theo quan điểm truyền thống, rủi ro là những sự kiện có thể xảy ra làm mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ, không thể đo lƣờng đƣợc. Theo quan điểm hiện đại, rủi ro bao hàm nghĩa rộng hơn và có thể đo lƣờng đƣợc, rủi ro không chỉ tính đến rủi ro tài chính mà còn tính đến rủi ro liên quan những mục tiêu hoạt động và mục tiêu chiến lƣợc.
Theo Frank Knight: “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lƣờng đƣợc” (Frank Knight 1921, tr233). Allan Willet lại cho rằng “Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến sự xuất hiện một biến cố không mong đợi” (Allan Willet 1951, tr 6). Nhìn chung, các quan điểm đều cho rằng rủi ro là những bất trắc, diễn ra bất ngờ, ngoài ý muốn của chủ thể. Vì vậy tác giả cho rằng : Rủi ro là những sự kiện chƣa chắc chắn trong tƣơng lai sẽ làm cho chủ thể không đạt đƣợc những mục tiêu chiến lƣợc và mục tiêu hoạt động, cũng nhƣ chi phí cơ hội của việc làm mất những cơ hội thị trƣờng.
- Các loại rủi ro chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại Có nhiều cách phân loại rủi ro, tuy nhiên trong phạm vi hoạt động của các NHTM Việt Nam có thể tổng hợp thành 8 loại rủi ro cơ bản (Xem Sơ đồ 1.1: Các rủi ro chủ yếu trong hoạt động của ngân hàng thƣơng mại Nguồn : Trần Huy Hoàng, 2003 Sơ đồ 1.1 cho thấy khi tiến hành hoạt động ngân hàng, các NHTM thƣờng gặp 8 loại rủi ro chủ yếu, cụ thể: Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng phát sinh trong trƣờng hợp ngân hàng không thu đƣợc đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn. Rủi ro lãi suất: Rủi ro lãi suất phát sinh đối với Ngân hàng khi kỳ hạn đến hạn của Tài sản có không cân xứng với kỳ hạn đến hạn của tài sản nợ. Nhƣ vậy, nếu Ngân hàng duy trì cơ cấu tài sản có và tài sản nợ với những kỳ hạn không cân xứng, thì phải chịu những rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản có và tái tài trợ tài sản nợ; hoặc rủi ro lãi suất do giá trị tài sản thay đổi khi lãi suất thị trƣờng biến động. Rủi ro nguồn vốn: Rủi ro do bị đọng vốn: Do nguồn vốn huy động của ngân hàng bị ứ đọng không cho vay đƣợc, cũng nhƣ không thể chuyển sang các loại tài sản có sinh lời khác.
Ngân hàng không khai thác hết đƣợc tiềm năng sinh lời của tài sản có, hiệu quả sử dụng vốn giảm, dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh. Nếu tình trạng này kéo dài không thể khắc phục đƣợc ngân hàng sẽ phá sản.