Chương 1: Cơ sở lý luận chung về chất lượng tín dụng khách hàng doanh nghiệp của NHTM 1.1 Tổng quan về Ngân hàng Thương mại (NHTM) 1.1 Khái niệm của Ngân hàng Thương mại Ngân hàng Thương mại là các tổ chức tài chính có lợi nhuận chuyên cung cấp dịch vụ cho các cá nhân và doanh nghiệp như cho vay, trung gian trao đổi tiền tệ,. theo quy định của pháp luật. Theo The Commercial Bank, NHTM được thành lập vào năm 1924 tại Oglethorpe bởi các doanh nhân ở địa phương để phục vụ nhu cầu tài chính của người dân và doanh nghiệp trong khu vực. Dựa vào mục đích và tính chất của NHTM trên thị trường tài chính mà hình thành nên những khái niệm khác nhau.
Theo Casu (2015), NHTM là trung gian tài chính quan trọng trong hệ thống tài chính của mỗi quốc gia, tồn tại dưới hình thức là công ty cổ phần hoặc thuộc sở hữu tư nhân. NHTM là một trong những nhà cung cấp tín dụng chính và vận hành cơ chế thanh toán cho hộ gia đình và doanh nghiệp. Ngoài ra, Ngân hàng thương mại còn được định nghĩa là các tổ chức tài chính nhận tiền gửi, cung cấp dịch vụ tài khoản Séc, các sản phẩm tài chính cơ bản như chứng chỉ tiền gửi, tài khoản tiết kiệm cho cá nhân và doanh nghiệp, thu lợi nhuận từ số tiền lãi kiếm được khi cho khách hàng vay tiền (Smirti, 2022). Ở Việt Nam, theo Khoản 3 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 thì Ngân hàng Thương mại được định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận".
Dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau về NHTM, tuy nhiên về bản chất các định nghĩa này đều có chung một đặc điểm là NHTM được hình thành theo quy định của pháp luật, nhận tiền gửi của khách hàng để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục đích lợi nhuận.2 Các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng Thương mại * Nghiệp vụ huy động vốn: 12 Kết cấu nguồn vốn của ngân hàng được hình thành chủ yếu từ những nguồn sau: vốn tự có, vốn huy động, lợi nhuận giữ lại và vốn khác. Nguồn vốn huy động từ các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp thông qua hình thức uỷ thác đóng vai trò quan trọng nhất trong hoạt động của ngân hàng, được xem như là sự khởi đầu cho các hoạt động kinh doanh về sau của NHTM. Trong suốt quá trình hoạt động, các NHTM phần lớn dựa vào việc huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi mà chủ sở hữu chúng gửi vào ngân hàng. Các hình thức huy động vốn của NHTM bao gồm: tiền gửi có kỳ hạn, tiền tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá, vay NHNN hoặc các TCTD khác,.
Nguồn vốn huy động được có khả năng đảm bảo uy tín và khả năng thanh toán trong nền kinh tế thị trường hiện nay. * Nghiệp vụ sử dụng vốn: Các NHTM cần phải có kế hoạch hợp lý để sử dụng nguồn vốn huy động được nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Nghiệp vụ sử dụng vốn bao gồm các hoạt động sau: hoạt động ngân quỹ, hoạt động cho vay và hoạt động đầu tư. Hoạt động ngân quỹ: là hoạt động nhằm đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên của NHTM, có tính thanh khoản cao bao gồm: quỹ tiền mặt, các khoản tiền đang trong quá trình thu về,.
do đây là khoản tiền không sinh lời hoặc nếu có sinh lời thì cũng rất thấp. Vì vậy, NHTM cần đảm bảo khoản tiền này luôn ở mức độ hợp lý sao cho vừa đảm bảo tính thanh khoản, vừa đảm bảo khả năng sinh lời. Hoạt động cho vay: là hoạt động kinh doanh nòng cốt của ngân hàng bởi đây là hoạt động có khả năng sinh lời cao nhất trong các hoạt động kinh doanh của NHTM. Trong tổng số tài sản có của NHTM, các khoản cho vay thường chiếm tỷ trọng 70% - 80% tổng số tài sản.
Các NHTM thường cho vay theo thời điểm: cho vay ngắn hạn với mục đích hỗ trợ vốn lưu động thiếu hụt; cho vay trung và dài hạn với mục đích xây dựng, đầu tư, mua các tài sản cố định. Hoạt động đầu tư: là NHTM tiến hành đầu tư thông qua việc mua bán chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận và một phần cũng để đảm bảo khả năng thanh toán. Khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán chính là phần thu nhập nhận được. * Nghiệp vụ trung gian: 13 Là các hoạt động dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách và và nhận được một khoản thu dưới hình thức phí.
Hiện nay, các dịch vụ trung gian mà NHTM cung cấp ngày càng đa dạng, tiện lợi đáp ứng tốt các nhu cầu của khách hàng: dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ thu chi uỷ thác của NHTM, dịch vụ thuê mua và bảo lãnh, dịch vụ bảo hiểm…Vai trò của các hoạt động này nhằm tạo ra sự khác biệt để thu hút khách hàng trong thời kỳ cạnh tranh khó khăn hiện nay, đồng thời tạo ra giá trị gia tăng và bổ sung thêm vào các nghiệp vụ cơ bản.2 Khái quát chung về tín dụng ngân hàng 1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Trong nền kinh tế, “tín dụng” là một khái niệm đã tồn tại từ lâu đời và trải qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng ra đời ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thuỷ bắt đầu tan rã. Sự tồn tại của quan hệ tín dụng nhằm giải quyết các hiện tượng dư thừa, thiếu hụt vốn diễn ra thường xuyên giữa các chủ thể trong nền kinh tế, trong quan hệ tín dụng các NHTM đóng vai trò vừa là người cho vay đồng thời vừa là người đi vay. Theo Alexandra Twin (2024), “Tín dụng ngân hàng” là số tiền mà một cá nhân hoặc doanh nghiệp nhận được từ một tổ chức ngân hàng dưới hình thức cho vay, số tiền khách hàng vay được phụ thuộc vào khả năng trả nợ của họ và tổng số tiền tín dụng mà tổ chức ngân hàng có thể cho vay.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2009): “Phạm trù tín dụng gắn liền với chuyển nhượng một lượng vốn có ba đặc điểm chính: tính tạm thời (tính thời hạn), tính hoàn trả với giá trị lớn hơn giá trị ban đầu và tính chất tin tưởng người sử dụng vốn có khả năng hoàn trả đúng hạn”. Ngoài ra, “Tín dụng ngân hàng” còn được định nghĩa là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa, uy tín) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên được cấp tín dụng có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán (Theo tài liệu Giáo trình Tín dụng ngân hàng (2019) - Học viện ngân hàng). 14 Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu: “Tín dụng ngân hàng là khoản vay NHTM của các khách hàng nhằm phục vụ nhu cầu kinh doanh hoặc nhu cầu cá nhân. Các NHTM kỳ vọng kiếm được lợi nhuận dựa trên lãi suất định kỳ của khoản vay, khoản vay này có thể có hoặc không có tài sản thế chấp.
Số tiền gốc và lãi sẽ được hoàn trả khi kết thúc thời hạn vay được ghi trong hợp đồng vay.2 Phân loại tín dụng trong ngân hàng thương mại Hiện nay, nhằm đáp ứng và phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng, NHTM cung cấp rất đa dạng các loại hình dịch vụ tín dụng cho nhiều đối tượng khách hàng nhằm đáp ứng những mục đích sử dụng khác nhau. Có một số tiêu thức phân loại chính như sau: - Căn cứ theo mục đích sử dụng: Tín dụng sản xuất và kinh doanh hàng hoá: là các khoản vay nhằm phục vụ nhu cầu vốn lưu động cho doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh khi có nhu cầu về nguyên vật liệu, chi trả chi phí sản xuất hoặc phát sinh nhu cầu mua bán, thanh toán hàng hoá. Tín dụng cho vay bất động sản: là khoản vay đáp ứng nhu cầu đầu tư bất động sản như mua nhà cửa và đất đai, người vay có thể lấy nhà đất sẽ mua làm tài sản đảm bảo. Tín dụng tiêu dùng: là khoản vay phục vụ cho các hoạt động chi tiêu trong cuộc sống hàng ngày đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình.
- Căn cứ theo thời gian: Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng có thời hạn cho vay dưới một năm. Thường nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động. Tín dụng trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ một năm đến dưới năm năm. Các NHTM thường cấp hình thức tín dụng này cho các dự án mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng,.
15 Tín dụng dài hạn: là các khoản vay có thời hạn từ 5 năm trở lên. Mục đích của hình thức cấp tín dụng này thường tập trung vào các dự án có giá trị lớn, ngoài ra có mục đích cơ bản giống tín dụng trung hạn. - Căn cứ theo mức độ đảm bảo: Tín dụng có bảo đảm: là các khoản cho vay mà khách hàng phải cam kết dùng tài sản để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với NHTM, các loại tài sản được sử dụng phổ biến bao gồm tài sản cầm cố, tài sản thế chấp,. Đối với loại hình tín dụng này, NHTM có thể phát mại tài sản để thu hồi vốn khi khách hàng không có khả năng trả nợ.
Tín dụng không bảo đảm: là các khoản vay không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín của cá nhân hay doanh nghiệp để từ đó quyết định có cho vay. Loại tín dụng này áp dụng cho các khách hàng lâu năm, có hệ số uy tín cao. - Căn cứ theo chủ thể vay vốn: Cho vay khách hàng doanh nghiệp: là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với khách hàng là doanh nghiệp. Cho vay khách hàng cá nhân: là hình thức tài trợ tài chính của ngân hàng đối với khách hàng là cá nhân hoặc hộ kinh doanh cá thể.3 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin.
Cơ sở quyết định để cấp một khoản tín dụng là lòng tin của ngân hàng về việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích và có khả năng hoàn trả gốc, lãi đúng hạn.