Chương I: Tổng quan về rủi ro theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ của ngân hàng thương mại Chương II: Thực trạng hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại Vietinbank chi nhánh KCN Tiên Sơn Chương III: Giải pháp hạn chế rủi ro theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại ngân hàng Vietinbank chi nhánh khu công nghiệp Tiên Sơn. 6 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO THEO PHƢƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về phƣơng thức thanh toán tín dụng chứng từ 1.1: Khái niệm về tín dụng chứng từ Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của từ phía khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận thanh toán hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi một số tiền nhất định khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng. Tín dụng thư là văn bản pháp lý trong đó ngân hàng mở tín dụng thư cam kết trả tiền cho người xuất khẩu, nếu xuất trình đầy đủ bộ chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung của thư tín dụng đã mở.
Như vậy, để tiến hành thanh toán bằng phương thức này, bắt buộc phải hình thành một thư tín dụng được mở bởi Ngân hàng phát hành. Đây là một văn bản quan trọng của phương thức thanh toán này, vì nếu không có thư tín dụng thì người thụ hưởng sẽ không giao hàng và như vậy phương thức tín dụng chứng từ cũng sẽ không hình thành được. Nếu người mua và người bán trong cùng một quốc gia, thư tín dụng sẽ là Thư tín dụng nội địa. Còn nếu người mua và người bán ở hai quốc gia khác nhau, hàng hoá được vận chuyển qua biên giới thì Thư tín dụng được coi là Thư tín dụng quốc tế.
Trong phạm vi bài nghiên cứu này, khái niệm thanh toán tín dụng chứng từ được hiểu là thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ. Người bán sẽ được hiểu chính là người xuất khẩu, người thụ hưởng trong thanh toán tín dụng chứng từ. Thư tín dụng là giao dịch kinh tế hai bên, chỉ giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng, Ngân hàng phát hành là đại diện cho Nhà nhập khẩu. Mọi yêu cầu sửa đổi, chỉ thị nào từ phía người thụ hưởng đều phải được thông báo đến Ngân hàng phát hành, và mọi thông báo được đưa ra từ Ngân hàng phát hành liên quan đến thư tín 7 dụng đã phát hành mới được công nhận, các thoả thuận khác giữa người nhập khẩu và xuất khẩu, hoặc giữa các bên liên quan khác đều không có ý nghĩa điều chỉnh nội dung thư tín dụng.
Thư tín dụng được hình thành trên cơ sở hợp đồng thương mại, tức là phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu của hợp đồng để người nhập khẩu làm thủ tục yêu cầu Ngân hàng mở thư tín dụng. Nhưng sau khi đã được mở, thư tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hoạt động thương mại đó. Điều đó có nghĩa là khi thanh toán, ngân hàng chỉ căn cứ vào nội dung thư tín dụng mà thôi. Nếu người hưởng xuất trình một bộ chứng từ phù hợp với nội dung đề ra trong thư tín dụng thì có nghĩa là ngân hàng phát hành sẽ chắc chắn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán, mà không phụ thuộc vào các yếu tố khác như chất lượng hàng hoá, việc giao hàng, tranh chấp thương mại, rủi ro bất khả kháng v.
Yêu cầu tuân thủ chặt chẽ của chứng từ là nguyên tắc cơ bản của giao dịch L/C. Bộ chứng từ phải tuân thủ chặt chẽ các điều khoản của L/C, bao gồm số loại, số lượng và nội dung của chúng. Bất kỳ sai sót nào dù là lớn hay nhỏ cũng đều bị coi là vi phạm các điều khoản của L/C, và người nhập khẩu có quyền từ chối, không chấp nhận thanh toán bộ chứng từ đã xuất trình theo thư tín dụng đó. Vì vậy mà L/C có thể bị lạm dụng thành công cụ từ chối nhận hàng, từ chối thanh toán và là công cụ để gian lận, lừa đảo.2: Các chủ thể tham gia Ngân hàng phát hành (Issuing Bank): Phát hành L/C.
Ngân hàng phát hành là người thực hiện phát hành thư tín dụng dựa trên hợp đồng thương mại và đề nghị phát hành L/C từ phía Nhà nhập khẩu. Việc phát hành L/C cũng chính là cam kết thanh toán của Ngân hàng hàng phát hành cho Bên thụ hưởng nếu bên thụ hưởng xuất trình đang các chứng từ phù hợp với yêu cầu trong thư tín dụng. Ngân hàng thông báo (Advising Bank): Thông báo L/C. Ngân hàng thông báo có vai trò thông báo cho người hưởng lợi rằng một L/C đã được mở tại ngân hàng phát hành cho người hưởng lợi và các điều khoản, điều kiện của L/C đó.
Ngân hàng thông báo thường chỉ có trách nhiệm thông báo, chứ không nhất thiết có trách nhiệm đối với việc 8 thanh toán L/C mà nó thông báo. Sau khi L/C được phát hành theo yêu cầu của người nhập khẩu, L/C này sẽ được chuyển tới ngân hàng thông báo. Ngân hàng thông báo tiếp đó có trách nhiệm chuyển nguyên văn L/C này tới cho người xuất khẩu. Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): là Ngân hàng bổ sung sự xác nhận của mình đối với L/C theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của Ngân hàng phát hành.
Ngân hàng này tham gia khi người thụ hưởng hoặc Ngân hàng thông báo chưa nắm rõ, đủ tin tưởng vào cam kết thanh toán từ Ngân hàng phát hành đưa ra. Khi đó sẽ có một Ngân hàng xác nhận để cam kết thanh toán cho người thụ hưởng trong trường hợp xuất trình được Bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản trong L/C. Ngân hàng bồi hoàn (Reimbursing Bank): Thanh toán đến Ngân hàng đòi tiền trong trường hợp L/C có chỉ định. Ngân hàng chiết khấu (Negotiating Bank): Thương lượng chiết khấu bộ chứng từ.
Trong trường hợp người xuất khẩu muốn nhận trước tiền hàng khi mà chưa đến hạn thanh toán L/C, họ có thể đề nghị Ngân hàng chiết khấu, ứng trước một số tiền nhất định với mức lãi suất, phí đã được thỏa thuận. Sau khi người mua thanh toán tiền, Ngân hàng chiết khấu sẽ giữ lại số tiền chiết khấu, lãi và phí, rồi mới hoàn trả người xuất khẩu số tiền còn lại. Ngân hàng xuất trình (Presenting Bank): Xuất trình bộ chứng từ đến ngân hàng được chỉ định trong L/C. Thông thường Ngân hàng thông báo, Ngân hàng xuất trình và Ngân hàng chiết khấu có thể là cùng một Ngân hàng phục vụ Bên xuất khẩu.
Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): Được ngân hàng phát hành chỉ định làm một công việc cụ thể nào đó, thường là thương lượng chiết khấu hoặc thanh toán bộ chứng từ. Ngân hàng đòi tiền (Claiming Bank): đòi tiền bộ chứng từ theo sự ủy quyền của các bên thụ hưởng. Người mở thư tín dụng (Applicant): hay còn gọi là Nhà nhập khẩu. Việc sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ sẽ mang lại cho nhà nhập khẩu những lợi ích 9 mà những phương thức thanh toán khác không có.
Phương thức thanh toán L/C giúp nhà nhập khẩu có thể tin tưởng rằng việc hàng giao sẽ đúng thời hạn và đúng chất lượng như những điều khoản trong hợp đồng vì đây chính là điều kiện để nhà xuất khẩu có bộ chứng từ hoàn hảo và nhận được tiền thanh toán từ ngân hàng phát hành. Ngân hàng chịu trách nhiệm kiểm tra tính đúng đắn và hoàn hảo của bộ chứng từ trên bề mặt và chịu trách nhiệm khi để xảy ra sai sót. Bên cạnh đó có rất nhiều loại L/C mà nhà nhập khẩu có thể lựa chọn loại L/C phù hợp với nhu cầu và mục đích sử dụng của mình. Chẳng hạn như nhà nhập khẩu cần nhập một mặt hàng có tính chu kỳ về số lượng và giá trị hàng hóa thì nhà nhập khẩu có thể mở L/C tuần hoàn để giảm được chi phí mở L/C nhiều lần và các chi phí giao dịch liên quan.
Khi nhà nhập khẩu muốn ứng một lượng tiền trước cho nhà xuất khẩu để thực hiện sản xuất hàng hóa, nhà nhập khẩu có thể yêu cầu mở L/C có điều khoản đỏ. Với những lợi ịch đem lại cho nhà Nhập khẩu, chi phí thanh toán L/C so với các phương thức thanh toán thông thường khác sẽ cao hơn tương đối nhiều. Người thụ hưởng (Beneficiary): hay còn gọi là Nhà xuất khẩu. Đối với nhà xuất khẩu, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được xem như là phương thức an toàn do hạn chế được đa số rủi ro trong việc thanh toán.
L/C chính là một cam kết của ngân hàng phát hành thay mặt người nhập khẩu thanh toán cho nhà xuất khẩu khi nhà xuất khẩu thực hiện đúng nghĩa vụ giao hàng và xuất trình được bộ chứng từ hoàn hảo. Nhà nhập khẩu không có quyền can thiệp vào quá trình thanh toán của ngân hàng phát hành và ngân hàng phát hành cũng không có quyền từ chối thanh toán nếu nhà xuất khẩu đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình. Từ những ưu điểm nêu trên, L/C sẽ mở ra những cơ hội làm ăn mới cho nhà xuất khẩu ngay cả khi hoàn toàn không có thông tin gì về người mua do việc thực hiện thanh toán đã được ngân hàng phát hành đứng ra bảo lãnh Tùy theo quy định của từng L/C cụ thể, một ngân hàng có khi đảm nhận nhiều chức năng của các ngân hàng được liệt kê như trên. Chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của các bên có liện quan được quy định cụ thể trong UCP và ISBP.3: Các văn bản pháp lý điều chỉnh Ngày nay với xu thế quốc tế hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ thì các quốc gia tham gia giao dịch mua bán trên thị trường quốc tế ngày càng nhiều.
Nhưng trong giao dịch ngoại thương giữa các nước luôn tồn tại những khó khăn do có sự khác biệt, mâu thuẫn về tập quán, văn hoá, hệ thống pháp luật và chính trị. Do đó thực tiễn đòi hỏi phải có một hệ thống các quy tắc, luật quốc tế mang tính thống nhất cho các quốc gia tham gia và thương mại quốc tế.