CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp Theo tác giả Tô Ngọc Hưng (2019), “tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng (TCTD), với các nhà doanh nghiệp và cá nhân (bên đi vay), trong đó các TCTD chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho TCTD khi đến hạn thanh toán”. Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến (2015), “Tín dụng là quan hệ vay mượn và sử dụng vốn lẫn nhau giữa bên cho vay và bên đi vay trong thời gian nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả vốn và lãi.
Hay cho vay là sự vận động vốn, điều tiết vốn từ nơi thừa sang nới thiếu, đáp ứng nhu cầu vốn trong nền kinh tế”. Theo Luật số 59/2020/QH14 ký ngày 17 tháng 6 năm 2020 về Luật Doanh nghiệp đã quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” Theo Mục 14 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng (2017), “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Từ những khái niệm trên, theo quan điểm của tác giả, tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với doanh nghiệp, trong đó ngân hàng chuyển cho doanh nghiệp sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác với thời gian nhất định được ký kết theo hợp đồng tín dụng/giấy nhận nợ trên nguyên tắc có hoàn trả 12 gốc và lãi. Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp.
Hình thức tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp Có nhiều cách phân loại tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp (KHDN), việc phân loại các khoản cho vay nhằm mục đích quản lý các khoản tín dụng có hiệu quả nhất. Tín dụng đối với KHDN được phân loại theo các tiêu chí khác nhau. Theo Tác giả Tô Ngọc Hưng (2019), tín dụng đối với KHDN được phân loại như sau: Căn cứ vào thời hạn tín dụng: Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới 01 năm, thường được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp. Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 01 đến 05 năm, được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 05 năm, được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Thường thì tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất. Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản tín dụng: Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như: cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh. Tín dụng không có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp.
Loại hình này thường được áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài và lịch sử trả nợ tốt, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối với ngân hàng. Căn cứ vào hình thức tín dụng: Cho vay: là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết cấp cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một 13 thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Chiết khấu: là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Cho thuê tài chính: là hình thức tín dụng trung, dài hạn được thực hiện thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác (gọi là tài sản cho thuê) trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa Bên cho thuê là các Ngân hàng và Bên thuê là khách hàng của Ngân hàng.
Bao thanh toán: là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Bảo lãnh ngân hàng: là hình thức cấp tín dụng, theo đó Ngân hàng (bên bảo lãnh) cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc Ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết, khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho Ngân hàng theo thỏa thuận. Trong nền kinh tế thị trường việc phân loại tín dụng ngân hàng theo các tiêu thức trên chỉ có ý nghĩa tương đối. Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng thì cách phân loại càng chi tiết và phong phú.
Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng. Vai trò của tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian mà hoạt động chủ yếu là tiếp nhận các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán, cung cấp các dịch vụ cho các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình, các nhà xuất nhập khẩu. Vai trò của tín dụng doanh nghiệp đối với các ngân hàng thương mại Tạo ra lợi nhuận cho NHTM 14 Hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tín dụng đối với KHDN nói riêng là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của các NHTM, nó mang lại nguồn lợi nhuận lớn cũng như quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng trong nền kinh tế thị trường. Trong quá trình phát triển, môi trường kinh doanh có nhiều thay đổi, nhiều sản phẩm dịch vụ phi tín dụng ra đời nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày một đa dạng của khách hàng, song hoạt động tín dụng vẫn luôn là hoạt động cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ hoạt động của NHTM.
Hoạt động tín dụng thường chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản có của ngân hàng (tùy từng giai đoạn và tùy từng ngân hàng thì tỷ trọng giữa tín dụng doanh nghiệp và tín dụng cá nhân có sự khác nhau) và lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng cũng là nguồn lợi nhuận có tỷ trọng cao nhất trên tổng lợi nhuận của NHTM (Vũ Ngọc Diệp, 2017). Tạo lập mối quan hệ gắn bó giữa NHTM và các doanh nghiệp Nguồn tài trợ vốn của ngân hàng là nguồn vốn mang tính ổn định, uy tín nhất mà bất cứ một doanh nghiệp nào có nhu cầu về vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh, bên cạnh việc đi tìm các nguồn tài trợ khác nhau thì họ luôn luôn tìm đến đầu tiên. Hoạt động tín dụng doanh nghiệp đã tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa ngân hàng và doanh nghiệp. Trong thực tế hoạt động tín dụng, nhiều KHDN vay vốn tại NHTM thông qua tư vấn, sự kết nối của ngân hàng đã tìm được các đối tác kinh doanh tốt, kinh doanh có hiệu quả đem lại lợi nhuận cho chính bản thân doanh nghiệp và ngân hàng.
Và ngược lại các ngân hàng phục vụ tốt, khách hàng sau khi có quan hệ vay vốn với ngân hàng đã giới thiệu cho các doanh nghiệp bạn hàng của mình mở tài khoản, vay vốn tại ngân hàng, tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh của mình (Đặng Quốc Hải, 2019). Tạo dựng uy tín, danh tiếng cho NHTM Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ cơ bản, thường xuyên của NHTM. Dư nợ tín dụng cấp cho các thành phần kinh tế càng lớn, ổn định và hiệu quả chứng tỏ NHMT đó đang hoạt động tốt, tạo lập được uy tín đối với nhiều khách hàng, nhiều khách hàng đang tin tưởng và sử dụng sản phẩm tín dụng. Kiểm soát và nâng cao chất lượng tín dụng sẽ tạo được uy tín với khách hàng qua đó cũng là tiền đề giúp ngân hàng tiếp thị phát triển cho hoạt động huy động vốn và các hoạt động dịch vụ 15 khác trong NHTM.
Tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng quy mô hoạt động Khi dư nợ cho vay ngày càng tăng lên, đòi hỏi các NHTM phải không ngừng tìm kiếm các nguồn huy động để cân đối, từ đó thúc đẩy hoạt động huy động vốn của ngân hàng phát triển mạnh mẽ. Có nguồn tín dụng hiệu quả và đem lại lợi nhuận cao giúp ngân hàng mở rộng quy mô cả về cơ sở vật chất lẫn nguồn lực. Lợi nhuận sau khi đã phân phối hết sẽ được các nhà quản trị NHTM bổ sung vào nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Có một nguồn vốn chủ sở hữu lớn, bền vững và hiệu quả giúp NHTM có thể chủ động trong mọi chính sách hoạt động nội tại, ứng biến chủ động trước mọi thay đổi bất lợi của nền kinh tế, chủ động trong mở rộng quy mô và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường của mình.