CHƯƠNG 1 CƠ SỞ PHÁP LY VÀ QUY ĐỊNH NỘI BO CUA NGAN HÀNG THƯƠNG MẠI CO PHAN DAU TƯ VÀ PHÁT TRIEN VIỆT NAM VE XỬ LÝ TÀI SAN BAO DAM 1. Tài sản bảo đảm 1. Khái niệm về tài sản Tài sản là một thuật ngữ hết sức quen thuộc trong đời sống thường ngày cũng như trong các lĩnh vực xã hội. Theo cách hiểu thông thường, tài sản là những của cải vật chất tồn tại dưới dạng cụ thé như nhà cửa, đồ đạc, phương tiện đi lại, máy móc thiết bị, tiền, vang,.; hiéu theo nghĩa rộng hon thì tài san còn bao gồm cả những đối tượng vô hình như quyền tai sản hay những của cải mang giá trị tinh thần tồn tại khách quan, do con người chiếm hữu, chi phối và có thé khai thác dé mang lại lợi ích cho con người.
Tài sản và quyền sở hữu là một chế định quan trọng được ghi nhận trong các Bộ luật Dân sự (BLDS) của Việt Nam. Tuy nhiên cũng giống như nhiều nước trên thế giới, các BLDS của Việt Nam từ trước cho đến nay đều chưa đưa ra một khái niệm cụ thê về tài sản, thay vào đó, khái niệm tài sản được trình bày theo phương pháp liệt kê những đối tượng được xem là tài sản. Cụ thể, khái niệm tài sản lần đầu tiên được quy định tại Điều 172 BLDS năm 1995 “Tdi sản bao gom vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiên và các quyên tài sản”. Tiếp đó, Điều 163 BLDS năm 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyên tài sản”.
Hiện nay, theo quy định tại Khoản 1 Điều 105, BLDS năm 2015 xác định "Tai sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyên tài sản". Như vậy, có thé thấy khái niệm tài sản theo quy định của BLDS hiện hành đã mở rộng hơn BLDS năm 1995 về những đối tượng nào được coi là tài sản, theo đó, tài sản bao gồm cả các vật (có tính hữu hình) và các quyền tài sản trên các vật đó (có tính vô hình), không chỉ những “vật có thực” mới được gọi là tài sản mà cả những vật được hình thành trong tương lai cũng được gọi là tài sản. Khái quát về biện pháp bảo đảm và tài sản bảo đảm Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là quy định của pháp luật hoặc thỏa thuận giữa các chủ thé nhăm đặt ra các biện pháp mang tính chất dự phòng dé bảo đảm cho việc thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chính là việc một bên (sau đây gọi là bên bảo đảm) sử dụng tài sản hoặc sử dụng uy tín/cam kết của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình hoặc của chủ thê khác (sau đây gọi là bên được bảo đảm) với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo đảm).
Trong trường hợp bên có nghĩa vụ vì lý do nào đó không thực hiện được nghĩa vụ của mình thì bên có quyền sẽ được phép xử lý tài sản để khấu trừ giá trị nghĩa vụ (nếu sử dụng tài sản dé bảo đảm) hoặc có quyền yêu cầu bên bảo đảm thực hiện nghĩa bảo đảm đã cam kết (nếu dùng uy tín/cam kết để bảo đảm). Hiện nay, BLDS năm 2015 của Việt Nam thừa nhận 09 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Điều 292), bao gồm: Cầm cố tài sản, thé chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, cầm giữ tài sản, bảo lãnh, tín chấp. Nếu xét về tính chất đối vật và đối nhân, thì biện pháp bảo đảm đcòn có thê được chia thành hai nhóm là: + Nhóm các biện pháp bảo đảm bằng tài sản (đối tượng của biện pháp bảo đảm là tài sản như vật, tiền, giấy tờ có giá, các quyền tài sản): Cầm cố tai sản, thé chấp tài san, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, cầm giữ tai sản. + Nhóm các biện pháp bảo đảm không dùng tài sản (đối tượng của biện pháp bảo đảm là uy tín/cam kết của bên bảo đảm): Bảo lãnh, tín chấp.
Tài sản bảo đảm (TSBP) là một thuật ngữ được sử dụng rất nhiều trong hệ thống các văn bản pháp luật nói chung, các văn bản dưới luật nói riêng và các văn bản trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng. Trong BLDS năm 2005, tài sản bảo đảm được đề cập đến tại Điều 320, 321 và 322 thông qua việc liệt kê các dạng tài sản cụ thé bao gồm "Vat bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự", "Tiên, giấy tờ có giá dùng để bao đảm thực hiện nghĩa vụ dan sự" va "Quyền tài sản dùng dé bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dan sự". Từ sau ngày 01/01/2017, khi BLDS năm 2015 chính thức có hiệu lực thi hành thay thế cho BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 đã lược bỏ bớt các nội dung tại Điều 320, 321, 322 và thay thé bằng Điều 295 quy định chung về TSBD. Tuy nhiên, nội dung điều luật chỉ đưa ra một số đặc điểm về tài sản mà chưa đưa ra khái niệm chính thức về TSBĐ.
Căn cứ theo quy định của BLDS năm 2005, ngày 29/12/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm (Nghị định số 163/2006/NĐ-CP). Trong đó, khái nệm TSBD đã được Nghị định khái quát hóa thành một khái niệm day đủ như sau: "TSBD là tài sản mà bên bảo dam dùng dé bảo dam thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo dam" (Khoản 7 Điều 3 Nghị định). Sau khi BLDS năm 2015 chính thức có hiệu lực thay thế cho BLDS năm 2005, hiện Chính phủ vẫn chưa ban hành Nghị định mới về giao dich bao đảm dé thé cho Nghị định số 163/2006/NĐ-CP” do đó, khái niệm trên vẫn được coi là khái niệm chính thức về TSBĐ của pháp luật hiện hành. Với cách tiếp cận như trên, có thé hiểu pháp luật Việt Nam thừa nhận TSBD là đối tượng của biện pháp bảo đảm bằng tài sản, hay nói một cách khác, TSBD là tài sản được bên bảo đảm sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự với bên nhận bảo đảm.
Do đó, về nguyên tắc tất cả các loại tài sản được quy định trong BLDS đều có thê trở thành TSBĐ, không phân biệt là động sản hay bất động sản, tài sản hiện có hay tài sản hình thành trong tương lai (trừ trường hợp pháp luật cấm hoặc các bên không thỏa thuận chọn làm TSBĐ). Nhu vậy, TSBD có thé là: - Vật: BLDS 2015 không đưa ra định nghĩa cụ thé về “vat”, tuy nhiên, dựa trên những đặc tính cũng như các quan điểm pháp lý thì có thể hiểu "vật" là một bộ phận của thế giới vật chất (tồn tại dưới dạng thể rắn, thể lỏng, thê khí và các dạng khác mà con người có thé nam giữ, chi phối); Tuy nhiên, không phải bat cứ bộ phận nào của thế giới vật chất đều được coi là vật mà chỉ những vật chất ích tức có khả năng thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người, con người có khả năng chiếm hữu được thì mới được coi là "vat". Vi dụ: nước tự nhiên tại sông, suối không được coi là vật nhưng nếu được đóng vào bình để phục vụ sinh hoạt của con người thì được coi là vật. - Tiền: là một loại tài sản đặc biệt do Nhà nước độc quyền phát hành.
Tiên vừa là công cụ thanh toán, công cụ tích lũy tài sản đồng thời là công cụ định giá các loại tài sản khác. > Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP là những văn bản hướng dan các quy định về giao dịch bảo đảm trong BLDS năm 2005. Theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ về quy định chỉ tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì các Nghị định này đã hết hiệu lực theo sự chấm dứt hiệu lực của BLDS năm 2005, tuy nhiên, trong thực tế vẫn đang được áp dụng bởi vì sau khi BLDS năm 2015 chính thức có hiệu lực thay thế cho BLDS năm 2005, hiện Chính phủ vẫn chưa ban hành Nghị định mới về giao dịch bảo đảm. 10 - Giấy tờ có giá”: là những loại giấy tờ có giá trị và có thể thanh toán, trao đôi như: cô phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật.
Giấy tờ có giá tồn tai dưới chứng chỉ hoặc bút toán ghi số dé xác nhận nghĩa vụ trả nợ/trả tiền của tổ chức phát hành giấy tờ có giá đối với người sở hữu giấy tờ có giá. Các loại giấy tờ có giá tuy có giá trị như tiền nhưng khi lưu thông và sử dụng trong các giao dịch dân sự với mức độ hạn chế hơn so với tiền/ hoặc chỉ được lưu thông giữa một số chủ thé nhất định theo quy định của pháp luật. - Quyên tài sản: Quyên tài sản được hiểu là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình. Quyền tài sản là một loại tài sản vô hình "trị giá được băng tiền, bao gồm quyền sử dụng đất, quyền chuyền giao tài sản, quyền đòi nợ, quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ và các quyên tài sản khác" (Điều 115 BLDS 2015).
Về cách phân loại TSBĐ, nhìn chung, có rất nhiều cách dé phân loại TSBĐ dựa theo từng tiêu thức được lựa chọn. Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, tùy thuộc vào mục tiêu phân loại mà các chủ thể sẽ lựa chọn các tiêu thức phù hợp khác nhau dé thực hiện phân loại TSBD. Vi dụ: Theo dang ton tai, TSBD có thé phan loai thanh TSBD hữu hình (TSBD là vật) và TSBD vô hình (TSBD là quyền); Dựa vào đặc tính có thé di đời được của tài sản, TSBD có thể phân loại thành TSBD là bắt động sản và TSBD là động san; Theo quy định của pháp luật về đăng ký quyền sở hiru/quyén sử dung/quyén khác đối với tài sản, TSBD có thé được phân chia thành tài sản bắt buộc phải đăng ký và tài sản không bắt buộc phải đăng ký; Dựa vào thời điểm hình thành, TSBD có thé phân chia thành tài sản đã hình thành và tài sản hình thành trong tương lai; .