phần mở đầu và phần kết luận, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý tài sản thế chấp sau cho vay của các Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng về quản lý tài sản thế chấp sau cho vay tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Công Thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Sa Đéc. Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm tăng cƣờng công tác quản lý tài sản thế chấp sau cho vay tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Công thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Sa Đéc. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Hiện nay có một số đề tài nghiên cứu có liên quan nhƣ sau: - Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Dƣơng Thị Hồng Hạnh (2011), với đề tài: “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Công Thƣơng Quảng Nam”.
Luận văn đã làm rõ các lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng, phân tích thực trạng dựa trên số liệu thực tế, chỉ ra các nguyên nhân gây ra rủi ro và đƣa ra các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Vietinbank Quảng Nam. Tuy nhiên đề tài chƣa đƣa ra đƣợc các kiến nghị cụ thể nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh, Footer Page 14 of 107. Header Page 15 of 107. x số liệu tập trung là giai đoạn 2008 -2010.
Do vậy, thực trạng rủi ro tín dụng đƣợc phân tích và đánh giá tại thời điểm hiện tại không còn phù hợp trong giai đoạn hiện nay do Vietinbank đã chuyển đổi mô hình cấp tín dụng lần 3 và thay thế phần mềm Corebanking từ Core Incas sang Core Sunshine. Luận văn cũng chƣa đi sâu phân tích các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng chỉ nêu ra mang tính chất chung nên chƣa cho ngƣời đọc hiểu cụ thể để vận dụng vào thực tế. - Bài viết “Quản lý tài sản thế chấp bảo đảm an toàn tín dụng tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam” tại địa bàn Đà Nẵng (Trƣơng Văn Minh 2014). Bài viết đã đƣa ra một số giải pháp về quản lý TSTC là máy móc thiết bị và hàng hóa.
Kết quả nghiên cứu của tác giả đã đạt đƣợc kết quả nghiên cứu nhƣ: i/ phải nắm chắc sơ đồ bố trí sản xuất, bố trí máy móc, thiết bị; ii/ phải hiểu, nắm thật kỹ quy trình SXKD; iii/ cần nghiên cứu, triển khai thực hiện gắn, dán nhãn hiệu, logo của NHPT vào TSBĐ; iv/ yêu cầu bên thế chấp, bên vay nhất thiết phải có thẻ tài sản cố định và một số giải pháp khác. Tuy nhiên bài viết chỉ tập trung nghiên cứu của Ngân hàng phát triển trên địa bàn Đà Nẵng và chƣa nghiên cứu hết tất cả các loại TSTC nên chƣa đƣa ra đƣợc các giải pháp và kiến nghị cụ thể áp dụng cho các NHTM tại Việt Nam cũng chƣa đƣa ra đƣợc quy trình kiểm soát TSTC sau cho vay để quản lý tài sản đảm bảo đƣợc tốt hơn nhằm hạn chế rủi ro trong vấn đề quản lý TSTC. - Bài viết “Hoàn thiện các quy định về quản lý và xử lý tài sản thế chấp” (Nguyễn Ngọc Điện 2015). Bài viết đã chỉ ra một số khó khăn và hạn chế của quản lý và xử lý TSTC và đƣa ra một số giải pháp để xử lý TSTC.
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Điện đã đạt đƣợc kết quả nghiên cứu nhƣ phải quản lý tài sản trong tầm kiểm soát và đƣa ra giải pháp xử lý TSBĐ không cần sự hợp tác của chủ sở hữu. Tuy nhiên bài viết chƣa đƣa ra đƣợc các giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm hạn chế rủi ro trong vấn đề quản lý và xử lý TSTC chỉ nêu ra mang tính chất chung chung nên chƣa cho ngƣời đọc hiểu để vận dụng vào thực tế. - Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Vũ Thị Nhƣ Ánh (2015), với đề tài: “Hoàn thiện công tác thẩm định giá bất động sản trong cho vay tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam”. Tác giả đã đƣa ra các khái niệm và phƣơng pháp về định giá TSBĐ một cách cụ thể nhằm hạn chế rủi ro tín dụng trong việc nhận tài sản đảm bảo.
Luận văn đã phân tích thực trạng và đƣa ra các con số thực tế về định giá bất động sản, từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn Footer Page 15 of 107. Header Page 16 of 107. xi thiện công tác thẩm định giá bất động sản trong cho vay tại Eximbank. Tuy nhiên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu định giá tài sản chỉ là bất động sản không nghiên cứa định giá tài sản đảm bảo là động sản nên chƣa phản ánh hết các rủi ro tín dụng khi nhận tài sản đảm bảo là động sản.
Bên cạnh đó, luận văn cũng chƣa đƣa ra đƣợc quy trình kiểm soát TSTC sau cho vay để quản lý tài sản đảm bảo đƣợc tốt hơn nhằm hạn chế rủi ro tín dụng. Qua nghiên cứu những bài viết của các tác giả nêu trên về quản lý và xử lý TSTC ở các NHTM. Các nghiên cứu trên đều theo hƣớng chung chung là đƣa ra một số giải pháp và hạn chế trong công tác quản lý TSTC. Tuy nhiên, chƣa có đề tài nào phân tích chuyên sâu về công tác quản lý TSTC sau cho vay của các NHTM.
Ngoài ra do hoạt động ngân hàng ở nhiều vùng, miền khác nhau nên việc áp dụng các giải pháp đƣợc nêu có thể chỉ dừng lại ở mức độ nhất định. Footer Page 16 of 107. Header Page 17 of 107. 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP SAU CHO VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tƣợng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thƣờng kèm theo lãi suất.
Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ. Do đó, Tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là ngƣời cho vay, và một bên là ngƣời đi vay. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,. Theo Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam (2010): “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Theo tác giả cho vay đƣợc hiểu nhƣ sau: “Cho vay phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa một bên là ngƣời cho vay (TCTD) còn bên kia là ngƣời vay (khách hàng vay vốn)”.2 Đặc trƣng của hoạt động cho vay trong ngân hàng Để phân biệt cho vay với tƣ cách là một hoạt động của các TCTD với giao dịch vay tài sản trong đời sống dân sự thông thƣờng, cũng nhƣ phân biệt cho vay với các hình thức cấp tín dụng khác của TCTD chúng ta dựa trên các đặc trƣng cơ bản sau đây: - Thứ nhất: về chủ thể thì chủ thể cho vay là TCTD. Khác với các giao dịch vay tài sản thông thƣờng, chủ thể vay có thể là bất kì ai có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và sở hữu tài sản vay, trong hoạt động cho vay, bên cho vay phải là tổ chức tín dụng đƣợc thành lập và hoạt động hợp pháp, có đủ điều kiện để tiến hành hoạt động cho vay. Cụ thể là các quy định của luật các TCTD năm 2010, bộ luật dân sự năm 2005, bộ luật dân sự năm 2015, luật doanh nghiệp năm 2005, luật doanh nghiệp năm 2014. Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện một cách chuyên nghiệp, liên tục và có tính chuyên môn nghiệp vụ sâu sắc.
Footer Page 17 of 107. Header Page 18 of 107. 2 - Thứ hai: đối tƣợng cấp tín dụng trong hoạt động cho vay là vốn (tiền tệ). Khác với hoạt động cho thuê tài chính, đối tƣợng cấp tín dụng là tài sản; đối với hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá, đối tƣợng cấp tín dụng là giá trị của các giấy tờ có giá thì đối tƣợng của hoạt động cho vay luôn luôn là vốn (tiền tệ).
Vốn ở đây có thể là đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ. Trong hoạt động cho vay bằng ngoại tệ, tổ chức tín dụng cần đáp ứng thêm một số yêu cầu khác của pháp luật. - Thứ ba: thời hạn trong hoạt động cho vay rất đa dạng, có thể là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Trong hoạt động cho vay, mục đích của TCTD là cấp cho bên đi vay một khoản tiền để họ sử dụng vào hoạt động sản suất kinh doanh hoặc tiêu dùng.
Căn cứ vào nhu cầu xin vay của bên đi vay, TCTD có thể tiến hành cho vay với nhiều thời hạn khác nhau. Đây chính là điểm khác biệt giữa hoạt động cho vay và các hoạt động cấp tín dụng khác của TCTD. Cụ thể, trong hoạt động cho thuê tài chính, thời hạn vay phụ thuộc vào thời gian khấu hao của tài sản thuê. Trong chiết khấu giấy tờ có giá, TCTD phải căn cứ vào thời hạn thanh toán còn lại của giấy tờ có giá để quyết định có nên mua lại hay không.
- Thứ tư: quan hệ cho vay đƣợc điều chỉnh bởi các quy định pháp luật ngân hàng. Với bản chất là hoạt động ngân hàng nên quan hệ pháp luật về cho vay giữa TCTD và khách hàng chịu sự điều chỉnh trƣớc tiên và trên hết bởi các quy định của pháp luật ngân hàng. Luật các TCTD đã có nhiều quy định về hoạt động cho vay nhƣ điều kiện vay vốn, nội dung HĐTD, các biện pháp bảo đảm tiền vay, quyền và nghĩa vụ của các bên trong HĐTD… Để cụ thể hóa các quy định này của luật các TCTD, NHNN đã ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 và đƣợc thay thế bằng thông tƣ 39/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN), điều chỉnh khá chi tiết các nội dung của quan hệ cho vay. Chính vì vậy, mặc dù cũng có bản chất là quan hệ pháp luật dân sự, nhƣng bộ luật dân sự chỉ đóng vai trò là luật chung, còn luật các TCTD là luật chuyên ngành.