Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XỬ LÝ BẤT ĐỘNG SẢN THẾ CHẤP 1. Khái quát về thế chấp bất động sản 1. Khái niệm bất động sản Trong khoa học pháp lý, bất động sản thường được định nghĩa dựa trên thuộc tính tự nhiên của tài sản, đó là khả năng không thể tự chuyển dịch bằng cơ học. Trường hợp bất động sản bị chuyển dịch thì công dụng của tài sản sẽ mất di hoặc bị ảnh hưởng nghiêm trọng1.
Theo Từ điển Luật học2, bất động sản được định nghĩa là: “Các tài sản không di, dời được. Bất động sản bao gồm đất đai, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng đó, các tài sản khác gắn liền với đất đai, các tài sản khác do pháp luật quy định. Theo quy định của Bộ luật dân sự Pháp thì “Tài sản là bất động sản do tính chất, do mục đích sử dụng hoặc do đối tượng gắn liền với tài sản. Theo quy định của Bộ luật Dân sự Nhật Bản thì “Đất và những vật gắn với đất là bất động sản” (Điều 86)3.
Đất được biểu hiện là một diện tích nhất định với không gian về chiều cao và bề sâu (đá, cát, sỏi, phù sa là một phần của đất) còn vật gắn liền với đất là vật liên quan chặt chẽ đến đất 4. Theo quy định của Bộ luật dân sự và thương mại của Thái Lan (có hiệu lực từ năm 1935) thì bất động sản là đất đai và những vật gắn liền với đất đai hoặc hợp thành một thể thống 1 Ts Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên), “Bình luận khoa học Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2014, trang 334. 2 Viện Khoa hoc Pháp lý (Bộ Tư pháp), “Từ điển luật học”, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2006, trang 51. 3 Bộ luật dân sự Nhật Bản, bản dịch tham khảo.
4 Phan Văn Lãng, “Bàn thêm về bất động sản hay động sản, tài sản có thể chuyển giao hay không chuyển giao và sự chuyển giao tài sản trong hợp đồng cầm cố, thế chấp”,Tạp chí Ngân hàng số 3 năm 3007. Nguồn: https://thongtinphapluatdansu.com/3008/06/30/bn-thm-v%E1%BB%81- d%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-hay-b%E1%BA%A5t-d%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-ti- s%E1%BA%A3n-c-th%E1%BB%83-chuy%E1%BB%83n-giao-hay-khng-th%E1%BB%83-chuy/ (truy cập lúc 4h30 ngày 11/3/3017). 5 nhất với đất đai. Nó bao gồm cả những quyền gắn với việc sở hữu đất đai (Điều 100)5.
Từ quy định của Bộ luật dân sự của các nước nói trên cho thấy, bất động sản được nhận diện chủ yếu và trước tiên thông qua “yếu tố (đặc tính) vật lý” - “không có khả năng di dời” của tài sản (trong tương quan so sánh với tài sản là động sản) và “yếu tố (đặc tính) gắn liền với bất động sản” của tài sản là động sản với đất đai thành một thể thống nhất về hiện trạng; tình trạng pháp lý và “yếu tố pháp lý” là sự thừa nhận theo ý chí của các nhà làm luật đối với một số loại hình bất động sản – tức bất động sản được thừa nhận dựa trên ý chí của nhà làm luật, chứ không phải dựa trên yếu tố vật lý và yếu tố gắn liền với bất động sản của tài sản. Ở Việt Nam, bất động sản cũng được định nghĩa dựa trên các yếu tố nói trên. Theo quy định của khoản 1 Điều 107 Bộ luật dân sự năm 2015, bất động sản được định nghĩa theo phương pháp liệt kê bao gồm: (1) Đất đai; (3) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; (3) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng và (4) Tài sản khác theo quy định của pháp luật. Như vậy, theo cách tiếp cận của Bộ luật dân sự năm 2015, bất động sản được phân biệt với động sản chủ yếu dựa trên yếu tố (đặc tính) vật lý của tài sản này đó là yếu tố không thể tự nhiên (tự thân) di dời mà không có sự tác động của ngoại lực.
Theo đó, bất động sản được nhận diện không chỉ là đất đai mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người gắn liền với đất đai có cấu trúc vật chất và công năng được xác định bao gồm nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai và tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng đó. Ngoài những tài sản được coi là bất động sản do thuộc tính tự nhiên của tài sản, Bộ luật dân sự năm 2015 còn thừa nhận những tài sản được coi là bất động sản do pháp luật quy định. Đây được xem là “bất động sản pháp định”, nghĩa là bất động sản do pháp luật quy định chứ không phải do tính chất (thuộc tính) tự nhiên của tài sản là không thể tự thân di dời. Theo quy định của Điều 5 Luật Kinh doanh bất động Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, “Bộ Luật Dân sự và Thương Mại Thái Lan – 5 Các quyển I-VI”, Hà Nội, năm 1995.
6 sản năm 2014, thì: “Các loại bất động sản đưa vào kinh doanh theo quy định của Luật này (sau đây gọi là bất động sản) bao gồm: 1. Nhà, công trình xây dựng có sẵn của các tổ chức, cá nhân; 3. Nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai của các tổ chức, cá nhân; 3. Nhà, công trình xây dựng là tài sản công được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đưa vào kinh doanh; 4.
Các loại đất được phép chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì được phép kinh doanh quyền sử dụng đất. Từ quy định nói trên của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 cho thấy, mặc dù Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 không khẳng định một cách minh thị quyền sử dụng đất là bất động sản, tuy nhiên, với quy định tại khoản 4 Điều 5 về việc “Các loại đất được phép chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì được phép kinh doanh quyền sử dụng đất” cho thấy, Luật này đã gián tiếp thừa nhận quyền sử dụng đất là bất động sản. Đây có thể xem là trường hợp tài sản “được coi là bất động sản do pháp luật quy định” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 107 Bộ luật dân sự năm 2015, đồng thời, cũng có thể nói, đây là bất động sản có tính chất đặc thù của Việt Nam so với pháp luật các nước. Tuy nhiên, có cách hiểu khác về khoản 4 này: đó là theo cách diễn đạt thì “các loại đất” mới là bất động sản nhưng do quy chế pháp lý đặc biệt của đất đai (chỉ thuộc sở hữu toàn dân, không thể là đối tượng của các giao dịch thương mại) nên quyền sử dụng các loại đất đó mới được đưa vào kinh doanh.
Hơn nữa, Điều 115 BLDS năm 2015 đã nhận diện quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”. Như vậy, mặc dù là quyền tài sản nhưng quyền sử dụng đất lại được hưởng các quy chế như của một bất động sản nên phần lớn mọi người đã quan niệm quyền sử dụng đất cũng là một loại bất động sản. 7 Quyền bề mặt6 cũng là một loại quyền tài sản gắn với bất động sản, vậy có được coi là bất động sản giống như quyền sử dụng đất không? Chúng ta có thể hình dung thứ tự các lớp quyền được hình thành và phụ thuộc vào nhau như sau: quyền sử dụng đất được hình thành và phụ thuộc vào đất đai thuộc sở hữu toàn dân và quyền bề mặt được hình thành trên quyền sử dụng đất của người khác và bị phụ thuộc vào quyền sử dụng đất. Không có câu trả lời cụ thể từ những điều luật hiện hành nhưng chúng tôi cho rằng: quyền sử dụng đất, quyền bề mặt là những quyền tài sản nhưng gắn với đất đai nên được hưởng các quy chế như một bất động sản.
Bất động sản có các đặc tính pháp lý như: Xét dưới góc độ vật lý, đây là tài sản có tính bất di bất dịch. Quá trình hình thành và biến động của bất động sản chỉ có thể tìm kiếm ở nguồn thông tin đáng tin cậy là Sổ địa chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Văn phòng đăng ký đất đai. Giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là nguồn thông tin có giá trị tham khảo, bởi có nhiều trường hợp người sử dụng đất có nhiều hơn một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do khai báo là mất và xin cấp lại phó bản hoặc làm giả giấy tờ sở hữu nhà đất. Xét dưới góc độ pháp lý, nhà ở, công trình xây dựng.
là đối tượng cần chịu sự quản lý của nhà nước vì chúng gắn với đất đai là đối tượng phải đăng ký quyền sử dụng (đối với quyền sử dụng đất là bắt buộc theo quy định của Luật đất đai 2013) hoặc đăng ký quyền sở hữu (đối với nhà ở, công trình kiến trúc. Nhà nước kiểm soát các biến động đối với đất đai như xác định các giao dịch như dịch chuyển quyền sử dụng, quyền sở hữu, cho thuê dài hạn, thế chấp. Bản chất thế chấp bất động sản Hiện tại trong giới luật học có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi tìm hiểu về bản chất của thế chấp bất động sản. Có chủ thể tiếp cận thế chấp bất động sản dưới giác độ là một giao dịch dân sự: "Bản chất của quan hệ thế chấp bất động sản tài sản để đảm bảo thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng là quan hệ hợp 6 Điều 367 BLDS năm 2015: “Quyền bề mặt là quyền của một chủ thể đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ thể khác” 8 đồng…"7.
Theo chúng tôi, cách tiếp cận này đã làm rõ được mối quan hệ giữa bên thế chấp bất động sản với bên nhận thế chấp bất động sản về việc: bên thế chấp bất động sản dùng bất động sản của mình để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận thế chấp. Theo đó, bên nhận thế chấp bất động sản có quyền kiểm tra việc khai thác, sử dụng bất động sản của bên thế chấp để tránh trường hợp tài sản đó bị tiêu hủy, giảm sút giá trị, có quyền yêu cầu giao bất động sản thế chấp để xử lý khi có sự vi phạm.