Chương 1: Hiệu quả tài chính và các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính của các Công ty cổ phần ngành bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán. Chương 2: Hiệu quả tài chính tác động đến hoạt động kinh doanh bất động sản của Công ty Cổ phần đầu tư Hải Phát. Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính tác động đến hoạt động kinh doanh bất động sản của Công ty Cổ phần đầu tư Hải Phát. 7 CHƢƠNG 1 HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 1.
Tổng quan về hiệu quả tài chính 1. Khái niệm về hiệu quả tài chính Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con ngƣời chờ đợi và hƣớng tới; nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả là hiệu suất, năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận.
Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động, đƣợc đánh giá bằng số lƣợng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lƣợng sản phẩm đƣợc sản xuất ra một đơn vị thời gian. Hiệu quả tài chính trƣớc hết đƣợc hiểu là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất. Hiệu quả kinh doanh còn thể hiện sự vận dụng khéo léo của các nhà quản trị doanh nghiệp giữa lý luận và thực tế nhằm khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất nhƣu máy móc, thiết bị nguyên vật liệu, nhân công để nâng cao lợi nhuận.
Vậy hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn vật lực, tài chính của DN để đạt đƣợc hiệu quả cao nhất. Thực chất của hiệu quả tài chính là sự so sánh giữa các kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp trong một ký nhất định tùy theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh. Nếu H là hiệu quả tài chính (hiệu quả kinh doanh) thì H đƣợc thể hiện theo công thức toán học nhƣ sau: Công thức trên phản ánh cứ 1 đồng chi phí đầu vào (vốn, nhân công, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị,…) thì tạo ra bao nhiêu đồng kết quả đầu ra nhƣ doanh thu, lợi nhuận,… trong một kỳ kinh doanh, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả 8 tài chính của doanh nghiệp càng tốt. Thước đo hiệu quả tài chính Trƣớc hết, việc sử dụng thƣớc đo nào để đánh giá về hiệu quả tài chính doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng.
Có rất nhiều các chỉ tiêu đo lƣờng hiệu quả tài chính doanh nghiệp nhƣng các chỉ tiêu thƣờng đƣợc sử dụng nhất trong các nghiên cứu có thể chia thành hai loại chính là các hệ số giá trị kế toán hay còn gọi là các hệ số về lợi nhuận và các hệ số giá trị thị trƣờng hay còn gọi là các hệ số về tăng trƣởng tài sản nhƣ: Lợi suất cổ tức (DY), Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), Tỷ suất sinh lời trên VCSH( ROE), Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS), Tỷ suất sinh lời trên vốn ĐT (ROI), Hệ số giá trị thị trƣờng. Nhìn chung ROS, ROA, ROE là ba thƣớc đo đƣợc sử dụng phổ biến nhất trong việc đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu này để đánh giá hiệu quả tài chính của các CTCP ngành BĐS niêm yết trên TTCK VN bởi các chỉ tiêu này có thể phản ánh đƣợc cách nhìn quá khứ, cho thấy tình hình hoạt động kinh doanh của DN nhƣ thế nào, khả năng tạo ra lợi nhuận mà các công ty đã đạt đƣợc trong các kỳ kế toán vừa qua ra sao, không những thế các chỉ tiêu này còn giúp chúng ta có một cách nhìn dễ dàng trong việc so sánh các doanh nghiệp cùng ngành với nhau. Bên cạnh đó, sự kết hợp của ba nhóm hệ số này có thể đƣa ra cho các nhà quản lý, lãnh đạo công ty, cổ đông và thị trƣờng có những đánh giá bao quát về hiệu quả tài chính trong quá khứ cũng nhƣ tiềm năng lợi nhuận và tăng trƣởng trong tƣơng lai của DN.
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) Khả năng tạo ra doanh thu của DN là những chiến lƣợc dài hạn, quyết định tạo ra LN và nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng nhƣ hiệu quả tài chính. Song mục tiêu cuối cùng của nhà quản trị không phải doanh thu mà là LN sau thuế. Do vậy để tăng LN sau thuế cần phải duy trì tốc độ tăng của doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí, khi đó mới có sự tăng trƣởng bền vững. Mặt khác, chỉ tiêu này cũng thể hiện trình độ kiểm soát chi phí của các nhà quản trị nhằm tăng cạnh tranh trên TT, chỉ tiêu đƣợc xác định nhƣ sau: 9 ( ) Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích, Doanh nghiệp nhận đƣợc 1 đồng Doanh thu thuần thì sẽ thu về đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuê thu nhập doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng chi phí càng tốt, hiệu quả tài chính đạt đƣợc càng cao. Chỉ tiêu này thấp thì hiệu quả tài chính đạt đƣợc càng thấp, bởi vậy nhà quản trị cần tăng cƣờng kiểm soát chi phí của các bộ phận. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Trong quá trình tiến hành những hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp mong muốn mở rộng quy mô sản xuất, thị trƣờng tiêu thụ nhằm tăng trƣởng mạnh, nâng cao hiệu quả tài chính. Do vậy nhà quản trị TT thƣờng đánh giá hiệu quả sử dụng các tài sản ĐT đƣợc xác định bằng công thức: ( ) Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích, doanh nghiệp phải bỏ ra 1 đồng tổng tài sản đầu tƣ thì thu đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu qủa sử dụng tài sản càng tốt, hiệu quả tài chính đạt đƣợc càng cao và ngƣợc lại. Đó là nhận tố giúp nhà quản trị đầu tƣ theo chiều rộng nhƣ xây dựng nhà xƣởng, mua thêm máy móc thiết bị, mở rộng thị phần tiêu thụ,… điều đó càng đặc biệt quan trọng với các công ty hoạt động trong lĩnh vực BĐS bởi để có những khối BĐS lớn có giá trị cao nhƣ nhà đất, chung cƣ cao cấp,… thì các doanh nghiệp phải bỏ ra một khối lƣợng tài sản lớn để sửa chữa, xây dựng, đầu tƣ,… Vì vậy chỉ số ROA sẽ có tác dụng trong việc đánh giá xem các doanh nghiệp ngành BĐS sử dụng hiệu quả tốt tài sản hay chƣa. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Khả năng tạo ra lợi nhuận của VCSH mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh là mục tiêu của mọi nhà quản trị, chỉ tiêu này đƣợc xác định nhƣ sau: ( ) 10 Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích, DN đầu tƣ 1 đồng VCSH thì thu đƣợc bao nhiêu đồng LNST thu nhập doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng VCSH và hiệu quả tài chính của DN là tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tƣ của chủ doah nghiệp và ngƣợc lại.
Đóc ũng là nhân tố giúp nhà quản trị tăng VCSH phục vụ cho hoạt động kinh doanh, đầu tƣ tài chính. Các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính 1. Khả năng thanh toán Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chihs giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kì với các khoản phải thanh toán trong kì. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là nội dung quan trọng để đánh giá chất lƣợng tài chính và hiệu quả tài chính.
Đây cũng là những thông tin hữu ích mà các tổ chức tín dụng, nhà đầu tƣ, cơ quan kiểm toán thƣờng hay quan tâm để đạt đƣợc các mục tiêu của mình trên thƣơng trƣờng kinh doanh. Khi đánh giá khả năng thanh toán của DN có nhiều cách tiếp cận tùy theo những mục tiêu khác nhau. Đánh giá khả năng thanh toán thông qua số liệu trên Bảng cân đối kế toán và Thuyết minh báo cáo tài chính đƣợc thể hiện qua các chỉ tiêu nhƣ hệ số khả năng thanh toán nhanh, hệ số thanh toán nợ ngắn hạn, hệ số thanh toán tổng quát,… 1.1 Khả năng thanh toán ngắn hạn Nợ ngắn hạn là các khoản nợ mà doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán trong thời hạn dƣới 1 năm kể từ ngày phát sinh. Nợ ngắn hạn bao gồm các khoản phải trả ngƣời bán, cán bộ công nhân viên, thuế nộp ngân sách, vay ngắn hạn, vay dài hạn đến hạn phải trả… Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn có vai trò rất quan trọng đối với tình hình tài chính doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu khả năng thanh toán nợ ngắn hạn thấp, kéo dài thƣờng xuất hiện rủi ro tài chính, làm giảm hiệu quả tài chính, nguy cơ phá sản có thể xảy ra kể cả trong điều kiện chỉ tiêu khả năng thanh toán tổng quát cao. Khả năng thanh toán ngắn hạn đƣợc đo lƣờng bằng một số chỉ tiêu sau: - Hệ số khả năng thanh toán nhanh (QR): 11 Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán nhanh của các tài sản dễ chuyển đổi thanh tiền đối với các khoản nợ ngăn hạn. Cũng giống nhƣ các chỉ tiêu trên, chỉ tiêu này cao quá hay thấp quá cũng gây nên hiệu quả tài chính của DN giảm. - Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (CR): Chỉ tiêu này cho biết tổng giá trị của tài sản ngắn hạn hiện có của doanh nghiệp có đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không.
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ một bộ phận của tài sản ngắn hạn đƣợc đầu tƣ từ nguồn vốn ổn định, đây là nhân tố làm tăng tính tự trọng trong hoạt động tài chính. Chỉ tiêu thấp, kéo dài có thể dẫn đến doanh nghiệp phụ thuộc tài chính, ảnh hƣởng không tốt hiệu quả tài chính.2 Khả năng thanh toán dài hạn Nợ dài hạn là các khoản nợ mà công ty có nghĩa vụ thanh toán trong thời hạn trên một năm kể từ ngày phát sinh. Nợ dài hạn là doanh nghiệp là một bộ phận của nguồn vốn ổn định dùng để đầu tƣ các tài sản dài hạn nhƣu tài sản cố định, BĐS đầu tƣ, CK dài hạn… Chính vì vậy, khả năng thanh toán nợ dài hạn là vô cùng quan trong bởi nó gây ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả tài chính công ty.