PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN NỘI DUNG : Chia làm 3 phần PHẦN I: Tổng quan về nhà ở cho người có thu nhập thấp, kinh nghiệm quốc tế và trong nước giải quyết nhà ở cho người có thu nhập thấp PHẦN II: Đánh giá thực trạng nhà ở cho người có thu nhập thấp trên địa bàn thành phố Hà Nội PHẦN III: Một số kiến nghị giải quyết nhà ở cho người có thu nhập thấp trên địa bàn thành phố Hà Nội Phần kết luận 3 PHẦN I TỔNG QUAN VỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI CÓ THU NHẬP THẤP, KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC GIẢI QUYẾT NHÀ Ở CHO NGƯỜI CÓ THU NHẬP THẤP 1.Người có thu nhập thấp và cách tiếp cận nhà ở của người có thu nhập thấp 1.1 Khái niệm về người có thu nhập thấp Trong thực tế chúng ta thường nghe thấy, đọc thấy các khái niệm như tầng lớp người giàu, người trung lưu hoặc người nghèo; hay các khái niệm người có thu nhập cao, người có thu nhập thấp. Các khái niệm trên phần nào phản ánh một bộ phận tầng lớp cá nhân trong xã hội được phân chia với các mục tiêu khác nhau; chẳng hạn trong xã hội tầng lớp người giàu thường chỉ những người thành đạt có địa vị trong xã hội, người nghèo chỉ những người có cuộc sống khó khăn , điêu kiện làm việc vất vả. Trong khi có nhiều đối tượng liên quan đến thu nhập được đề cập đến thì trong bài viết này chỉ tập trung vào một lớp đối tượng đã nêu trên đó là người có thu nhập thấp trong xã hội. Các câu hỏi cần được trả lời là người có thu nhập thấp là ai ? Họ ở đâu, làm gì , Tại sao xã hội lại quan tâm đến họ? Các vấn đề về nhà ở của họ như thế nào cùng với sự nỗ lực của chính bản thân họ, của Nhà nước và xã hội? Để trả lời lần lượt các câu hỏi trên trước tiên chúng ta cần có khái niệm về người thu nhập thấp.
Theo khái niệm của Liên Hợp Quốc và UNDP người có thu nhập thấp là những người chi tiêu ít nhất 66% thu nhập cho ăn uống để tồn tại, 34% thu nhập còn lại cho nhà ở, văn hóa, giáo dục, y tế, đi lại… Một lớp đối tượng khác cũng thuộc người có thu nhập thấp đó là người nghèo Theo Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1$/ ngày theo sức mua tương đương của địa phương để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho sự nghèo đói. 4 Tại một số Châu lục, mỗi vùng, các khu vực hay các quốc gia khác nhau lại có những quy định khác nhau với người nghèo hay người có thu nhập thấp: tại Mỹ La Tinh mức nghèo dược quy định từ 2- 4$ người/ngày; trong khi tại các nước công nghiệp phát triển mưc nghèo được quy định là 14$ người/ ngày). Việc các Châu lục, Vùng , khu vực hay các quốc gia khác nhau có nhưng quy định riêng cho mình là do căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế thực tế của mình, căn cứ vào mức sống của đại bộ phận dân cư đang sinh sống tại đó, hay căn cứ vào sức mua thực tế của đồng tiền nước đó. Vì vậy, để thống nhất chuẩn chung cho người có thu nhập thấp trên thế giới chúng ta lấy khái niện của Liên Hợp Quốc và Ngân hàng Thế giới như là tiêu chuẩn chung tối thiểu cho việc đánh giá.
Tại Việt Nam khái niệm người có thu nhập thấp và khái niệm nghèo có thể được nhiều người hiểu như nhau và ngay cả giữa các cơ quan quản lý của nhà nước cũng có khái niệm khác nhau: Theo như công bố của Chính Phủ Việt Nam trong mỗi thời kỳ khác nhau Chính Phủ công bố các chuẩn khác nhau với người nghèo.Quyết định số 143/2001/QĐ – TTg của thủ tướng Chính phủ ngày 27/9/2001 , trong đó phê duyệt” Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói và giảm nghèo giai đoạn 2001- 2005 “ thì những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn, miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng (1.000 đồng/ người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở thành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu người tử 150.000 đồng/ người/tháng (1.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Theo quyết định số 170/2005/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng 2006 -2010 ở nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/ tháng (2.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị có thu nhập 260.000 đồng/ người/ tháng (dưới 3.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. 5 Chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 -2015 tại nông thôn là 400.000đồng/người/ tháng, tại thành thị là 500.000 đồng/người/tháng. Tổng cục Thống kê xác định ngưỡng nghèo dựa trên chi phí cho một giỏ tiêu dùng bao gồm lương thực và phi lương thực, trong đó chi phí cho lương thực phải đảm bảo 2.100 calo mỗi ngày/người.
Các hộ nghèo nếu mức thu nhập không đủ đảm bảo giỏ tiêu dùng này.(Tr 7 – Báo cáo phát triển Việt Nam 2004 –Nghèo) Ngoài ra khái niệm người nghèo và người có thu nhập thấp còn được mở rộng ra khi dượcđưa thêm tiêu chí mới vào đó là tiêu chí về nhà ở, theo đó hai khái niệm này được hiểu như sau: Người nghèo được xác định là những người thiếu ăn không thể tự lo được nhà mà phải được nhà nước hỗ trợ hoàn toàn. Người có thu nhập thấp là người với điều kiện ở chất lượng kém, với mức thu nhập ổn định nhưng thấp và có khả năng dành một phàn ít thu nhập cho việc cải thiện nhà ở với sự trợ giúp của nhà nước. Bộ lao động Thương binh và Xã hội lại có định nghĩa người có thu nhập thấp đô thị như sau: “ Người thu nhập thấp đô thị thu nhập bình quân một tháng của họ chỉ đủ đáp ứng nhu cầu cơ bản cuộc sống hiện tại của con người, có mức sống trên mức trung bình tối thiểu, còn khó có khả năng tiếp cận với nhà ở”. Với cách tiếp cận của Bộ lao động Thương binh và Xã hội trong việc đưa hại tiêu chí là thu nhập và nhà ở được xem như tiêu chuẩn cao hơn so với các định nghĩa về người nghèo và phần nào đó có sự tương đồng với định nghĩa về người có thu nhập thấp của Liên Hợp Quốc và UNDP.
Do mục đích nghiên cứu của đề tài là người có thu nhập thấp tại Thành phố Hà Nội và đang khó khăn về nhà ở nên tác giả hiểu và sử dụng khái niệm người có thu nhập thấp như sau: Người có thu nhập thấp ở đô thị bao gồm những người có thu nhập trên ngưỡng nghèo và dưới ngưỡng trung lưu. Nhìn chung thu nhập của họ chỉ đáp ứng những nhu cầu tối thiểu cuộc sống hiện tại và đang gặp khó khăn về nhà ở và cần nhà nước trợ giúp.2 Phân loại người có thu nhập thấp Trong phần định nghĩa về người thu nhập thấp chúng ta đã có tiêu trí phân loại là thu nhập và chi tiêu để phân ra người có thu nhập thấp và người nghèo.Việc không đưa người nghèo vào nghiên cứu trong bài viết nhằm loại một phần đối tượng này ra vì đây là đối tượng nhận sự trợ giúp đặc biệt của xã hội về nhiều mặt trong khi ngươi thu nhập thấp vẫn có thể tự lo cho cuộc sống của mình. Vậy chúng ta có cần phải tiếp tục phân loại người thu nhập thấp nữa không? hay nói cách khác tại sao lại phải phân loại người có thu nhập thấp, các tiêu trí cần thiết nào nên được lựa chọn trong cách phân loại này. Cũng tương tự như vậy, đối với người có thu nhập thấp chúng ta cần phân ra các nhóm khác nhau dựa vào một hay một vài tiêu trí nào đó.
Một số khái niệm về họ cần được làm rõ như họ là ai, họ ở đâu, thu nhập như thế nào, cơ cấu tuổi , giới tính, quy mô gia đình, thu nhập và tích lũy. Trong phần phân loại người có thu nhập thâp dưới đây bài viết đề cập đến cách thức phân loại và có một khái niệm về NTNT(Người thu nhập thấp), một số vấn đề khác sẽ trình bày trong phần đặc điểm chung mà không đi sâu chi tiết cụ thể vào đặc điểm riêng của từng nhóm đối tượng. Trong khi một loạt các tiêu trí phân loại được liệt kê thì tiêu trí ngành nghề được lựa chọn vì đây là tiêu trí mang tính bao quát rộng hơn nhiều so với các tiêu trí khác. -Công chức, viên chức (từ lớp trung lưu trở xuống):Công chức (chi tiết theo Nghị định 06/2010/NĐ-CP): Được tuyển dụng bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế giữ một công vụ thường xuyên, hoặc nhiệm vụ thường xuyên trong các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện; Trong các cơ quan, đơn vị QĐND (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp như chuyên viên vi tính, kế toán.); Trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); Trong các cơ quan Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; Trong các bộ và cơ quan ngang bộ; TAND các cấp (Phó chánh án TAND tối cao; chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách, 7 thẩm phán); Viện KSND; tổ chức CT-XH (Mặt trận Tổ quốc VN, Tổng liên đoàn Lao động VN, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên.); Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập.
Viên chức là người thực hiện các công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin - truyền thông, tài nguyên môi trường, dịch vụ. như bác sĩ, giáo viên, giảng viên đại học. -Giáo viên các trường phổ thông, một giáo viên các trường đại học,cao đẳng; - Cán bộ ngành y tế(từ lớp trung lưu trở xuống); -Bộ phận tầng lớp dân lao động và buôn bán nhỏ ở đô thị, dân cư tại các khu tái định cư,công nhân nhà máy.3 Một số đặc điểm về người có thu nhập thấp 1.1 Tình trạn di cư với NTNT Di cư là việc cá nhân di chuyển khỏi địa bàn cư trú của mình.