Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Thị Huyền, bảo vệ năm 2013 tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số 62 22 80 05). Hướng tiếp cận của luận án là định tính, sử dụng phân tích lý luận kết hợp phân tích thực tiễn lịch sử và so sánh chính sách.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tác giả đặt vấn đề trong bối cảnh sau 25 năm đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện. Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu đã làm lộ ra những khó khăn, bất cập trong cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý. Cụ thể, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về vấn đề sở hữu chưa đồng bộ và thống nhất; còn có sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế; các loại thị trường hình thành và phát triển còn chậm, vận hành chưa thông suốt; cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ sở hữu còn nhiều; hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển; nền kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng và sức cạnh tranh thấp. Tác giả xác định một trong những nguyên nhân là do vai trò của các hình thức sở hữu chưa được phát huy đầy đủ. Từ đó, luận án lựa chọn đề tài nhằm lấp khoảng trống về sự thiếu hệ thống hóa lý luận cũng như phân tích thực trạng vai trò của từng hình thức sở hữu trong giai đoạn hiện tại.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích tổng quát: trên cơ sở làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các hình thức sở hữu, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Ba nhiệm vụ chính:

  1. Làm rõ một số vấn đề lý luận về sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  2. Phân tích thực trạng của các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay; những vấn đề đặt ra đối với vai trò của các hình thức sở hữu đó.
  3. Đưa ra quan điểm và giải pháp nhằm phát huy vai trò của các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng: vai trò của các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
  • Phạm vi không gian: Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: giai đoạn phát triển kinh tế của Việt Nam trong khoảng 15 năm trở lại (tính từ thời điểm bảo vệ luận án năm 2013).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước được tác giả điểm lại

Tác giả tổ chức tổng quan theo ba nhóm vấn đề chính:

Nhóm 1 – Lý luận về khái niệm sở hữu và hình thức sở hữu:

  • Trần Ngọc Linh phân tích lịch sử phát triển của khái niệm "sở hữu" từ thời cổ đại đến thế kỷ XVII, chỉ ra hai khuynh hướng tư tưởng của Locke, Smith và của Savigny, Rútxô.
  • Vũ Hồng Sơn (luận án tiến sĩ "Xu hướng và đặc điểm của quá trình đa dạng hóa các hình thức sở hữu theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam") xác định sở hữu là phạm trù lịch sử, là quan hệ xã hội nhất định, biến đổi tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội; đối tượng sở hữu ngày nay có thể tách khỏi quyền sở hữu.
  • Nguyễn Thị Luyến (chủ biên cuốn "Về vấn đề sở hữu") chỉ ra rằng nếu không giải quyết đúng đắn vấn đề sở hữu thì khó đưa nền kinh tế vượt qua trì trệ, khủng hoảng; đồng thời phê phán quan niệm cũ chỉ thừa nhận hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể.
  • Đỗ Thế Tùng ("Những quan điểm khoa học cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin về sở hữu và việc vận dụng vào quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam") phân tích khái niệm sở hữu và chế độ sở hữu.
  • Phạm Quang Phan ("Một số nhận thức cơ bản về sở hữu và nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam") luận giải sở hữu là phạm trù xuất phát và cơ bản của kinh tế học; phân biệt quan điểm tư sản và quan điểm mác-xít về sở hữu tư liệu sản xuất.
  • Nguyễn Văn Thức (cuốn "Sở hữu: Lý luận và vận dụng ở Việt Nam", Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004) phân tích quyền sở hữu gồm các quyền sử dụng, hưởng thụ, chuyển nhượng, thế chấp, cho thừa kế, thay đổi, hiến tặng, phá hủy; phân biệt chủ thể sở hữu và đối tượng sở hữu.
  • Phạm Văn Sinh phân biệt khái niệm hình thức sở hữu và quan hệ sở hữu.
  • Nguyễn Thành Trí ("Chế độ sở hữu, hình thức sở hữu, quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt và chế độ sử dụng, phân phối nguồn lợi tài sản quốc gia trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta") đề xuất cần xác định thống nhất chế độ sở hữu nhà nước là nền tảng.
  • Nguyễn Kế Tuấn (chủ biên cuốn "Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam") phân biệt chế độ sở hữu là phạm trù ổn định tương đối, còn hình thức sở hữu là phạm trù lịch sử có tính biến đổi.

Nhóm 2 – Vai trò của sở hữu nhà nước và doanh nghiệp nhà nước:

  • Nguyễn Đình Kháng (cuốn "Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng 1986-2005") khẳng định quan hệ sở hữu là mặt chủ yếu nhất trong ba mặt của quan hệ sản xuất.
  • Hồ Tấn Phong cho rằng sở hữu là vấn đề kinh tế chính trị, phải có quan điểm chính trị khi bàn về vấn đề sở hữu.
  • Trương Gia Long phân tích vai trò của sở hữu và các thành phần kinh tế; trước năm 1986, sở hữu đặc trưng là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể với cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
  • Nguyễn Cúc ("Một số vấn đề về sở hữu nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa") phân tích sở hữu nhà nước là nòng cốt trong thực hiện quản lý nhà nước.
  • Đoàn Duy Thành phân tích ba nhân tố cơ bản tác động đến hoạt động của doanh nghiệp nhà nước: thể chế, chính sách; tổ chức bộ máy quản lý; con người trực tiếp chỉ đạo.
  • Tô Đức Hạnh ("Vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam") khẳng định kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo.
  • Nguyễn Văn Thức ("Sở hữu: Lý luận và vận dụng ở Việt Nam", 2004) xác định sở hữu nhà nước là nhân tố mở đường, định hướng.

Nhóm 3 – Tính tất yếu đa dạng hóa sở hữu và kinh nghiệm quốc tế:

  • Đặng Hữu Toàn ("Sự tồn tại đan xen các hình thức sở hữu – một tất yếu lịch sử, một yêu cầu bức thiết trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", trong cuốn "Vấn đề sở hữu và phát triển bền vững ở Việt Nam và Trung Quốc trong những năm đầu thế kỷ XXI") luận giải tính tất yếu đa dạng hóa sở hữu qua ba lý do: thời kỳ quá độ lâu dài; lực lượng sản xuất chưa phát triển đồng bộ; khai thác triệt để mọi năng lực sản xuất.
  • Đoàn Quang Thọ phân tích mối quan hệ biện chứng giữa đa dạng hóa hình thức sở hữu và củng cố sở hữu toàn dân, tập thể.
  • Lưu Văn Sùng đề xuất bốn căn cứ để xác định đặc trưng quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bao gồm nghiên cứu di sản lý luận, xu hướng đa dạng hóa sở hữu trên thế giới, kinh nghiệm Trung Quốc, và sự thay đổi sở hữu trong quá trình đổi mới ở Việt Nam.
  • Phạm Văn Đức ("Đổi mới về sở hữu ở Việt Nam: Một số cơ sở lý luận") điểm lại các đổi mới quan trọng trong lĩnh vực sở hữu từ Đại hội III đến Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Trần Đức (cuốn "Sở hữu và cây đời") nghiên cứu sở hữu ở Liên Xô, cải cách ở Trung Quốc, cổ phần hóa toàn dân ở Triều Tiên, sở hữu tập thể ở Mỹ.
  • Nguyễn Ngọc Hồi (cuốn "Chế độ công hữu – mục tiêu hay chỉ là phương tiện") phân tích hai quan điểm trái ngược nhau về vai trò của chế độ công hữu trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước chủ yếu tập trung vào từng khía cạnh riêng lẻ: hoặc phân tích khái niệm lý luận, hoặc bàn về từng loại hình sở hữu cụ thể, hoặc đề xuất giải pháp theo ngành chính sách. Luận án xác định khoảng trống là sự thiếu vắng một công trình hệ thống hóa đồng thời lý luận về các hình thức sở hữu, phân tích thực trạng vai trò của từng hình thức sở hữu, và đề xuất giải pháp tổng thể trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam giai đoạn khoảng 15 năm trở lại trước năm 2013.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích

Cơ sở lý luận của luận án là những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề sở hữu.

Khung phân tích trung tâm xoay quanh các phạm trù: sở hữu (quan hệ xã hội mang tính lịch sử cụ thể giữa người với người trong chiếm hữu của cải vật chất); quyền sở hữu (sự phản ánh quan hệ sở hữu trong pháp luật, gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt); hình thức sở hữu (biểu hiện cụ thể của quan hệ sở hữu trong đời sống hàng ngày, gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp); chế độ sở hữu (phạm trù tổng quát, ổn định tương đối); và quan hệ sản xuất (gồm quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức và quản lý, quan hệ phân phối sản phẩm). Luận án vận dụng nguyên lý về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nguyên lý về cơ sở hạ tầng và thượng tầng kiến trúc trong chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Quan điểm của C.Lênin về sở hữu trong thời kỳ quá độ và việc vận dụng quan điểm đó ở Việt Nam được xem là trọng tâm của cơ sở lý luận.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thuộc hướng định tính, sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, lôgic-lịch sử, khái quát hóa, trừu tượng hóa và các phương pháp chung của khoa học xã hội.

Nguồn tư liệu

  • Các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam (dẫn chiếu trực tiếp trong phần mở đầu).
  • Các công trình khoa học đã công bố của các nhà nghiên cứu trong nước.
  • Thực tiễn quá trình xây dựng chế độ sở hữu ở Việt Nam hiện nay.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Chương này rà soát hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan theo ba nhánh: lý luận về sở hữu và hình thức sở hữu; vai trò của các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; và các giải pháp cho vấn đề sở hữu. Tác giả chỉ ra rằng nhiều tác giả đều thừa nhận sở hữu là quan hệ giữa người với người trong chiếm hữu của cải vật chất, là biểu hiện về mặt xã hội của chiếm hữu, thường gắn với chủ thể sở hữu, đối tượng sở hữu và quyền sở hữu. Tựu trung lại, quyền sở hữu có ba quyền cơ bản là chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Chương cũng phác thảo sự vận động lịch sử của khái niệm sở hữu từ thời kỳ Aristốt không dùng khái niệm "sở hữu" mà nói đến "chiếm giữ", đến sự xuất hiện khái niệm này vào thế kỷ XVII gắn với tư tưởng quyền tự nhiên, cho đến quan điểm mác-xít coi sở hữu là quan hệ kinh tế là cơ sở của các quan hệ sản xuất xã hội, còn quyền sở hữu là sự phản ánh những quan hệ đó trong pháp luật.

Chương 2: Sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Một số vấn đề lý luận

Chương này xây dựng khung lý luận cho toàn bộ luận án. Tác giả phân tích: (1) khái niệm sở hữu và hình thức sở hữu theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, phân biệt sở hữu danh nghĩa và sở hữu thực tế, phân biệt chế độ sở hữu và hình thức sở hữu; (2) sự vận động biến đổi của các hình thức sở hữu trong lịch sử — từ sở hữu bộ lạc trong hình thái cộng sản nguyên thủy, sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước trong chế độ chiếm hữu nô lệ, sở hữu phong kiến, đến sở hữu cổ phần, sở hữu tư bản nhà nước trong xã hội tư bản; (3) quan điểm của C.Lênin về sở hữu và việc vận dụng quan điểm đó ở Việt Nam; (4) mối liên hệ và sự phối hợp giữa các hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Luận điểm trung tâm của chương là tính tất yếu phải đa dạng hóa các hình thức sở hữu trong điều kiện lực lượng sản xuất chưa phát triển đồng bộ, vì mỗi hình thức sở hữu có tác dụng nhất định trong một thời điểm nhất định, không thể tuyệt đối hóa một loại sở hữu nào. Đồng thời, sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất phải là chủ chốt mới đảm bảo cho nền kinh tế thị trường phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chương 3: Vai trò của các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Chương phân tích thực trạng vai trò của từng hình thức sở hữu tại Việt Nam trong giai đoạn khảo sát, bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp. Tác giả chỉ ra rằng:

  • Sở hữu nhà nước thể hiện vai trò chủ đạo qua thành phần kinh tế nhà nước và các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, song đang phát sinh nhiều vấn đề trong thực tiễn. Hoạt động của doanh nghiệp nhà nước chịu sự tác động trực tiếp của ba nhân tố cơ bản: thể chế, chính sách; tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh; con người trực tiếp chỉ đạo, quản lý và thực hiện nhiệm vụ được giao.
  • Sở hữu tập thể thể hiện qua vai trò của các hợp tác xã sản xuất, kinh doanh, dịch vụ — trong đó xã viên đóng vai trò chủ sở hữu. Sau thời kỳ bao cấp, người dân lao động chưa thấy được lợi ích thiết thân của việc tham gia hợp tác xã nên không mặn mà với mô hình hợp tác xã kiểu cũ; các hợp tác xã hiện còn giữ vị trí khiêm tốn trong cơ cấu kinh tế.
  • Phần về những vấn đề đặt ra (tiết 3.2) phân tích những bất cập, hạn chế của từng hình thức sở hữu trong điều kiện kinh tế thị trường: hệ thống pháp luật chưa đồng bộ; cạnh tranh không lành mạnh; phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế; tình trạng trốn lậu thuế, gian lận thương mại; tài sản quốc gia bị thất thoát qua tình trạng thua lỗ kéo dài của doanh nghiệp nhà nước.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp nhằm phát huy vai trò của các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở phân tích thực trạng và vấn đề đặt ra ở chương 3, chương 4 trình bày các giải pháp nhằm phát huy vai trò của các hình thức sở hữu. Tác giả đưa ra các quan điểm định hướng và giải pháp cụ thể, trong đó nhấn mạnh: cần thường xuyên đổi mới cơ chế, chính sách và pháp luật; khuyến khích mở rộng, thu hút đầu tư nước ngoài; khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân; cần bổ sung, điều chỉnh đồng bộ nhằm lấp khe hở, chống thất thoát tài sản quốc gia; cần tăng cường vai trò giám sát kiểm soát, kiểm tra của hệ thống các cơ quan lập pháp; buộc các cơ sở quốc doanh phải ra sức phấn đấu nhằm hạ giá thành, tăng năng suất, đồng thời sớm loại bỏ những đặc quyền đặc lợi trước đây dành cho quốc doanh (từ thuế má, giá cả tín dụng, trợ cấp, địa vị của người quản lý).


Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự nêu ba đóng góp mới về mặt khoa học:

  1. Góp phần hệ thống hóa lý luận về sở hữu, sở hữu tư liệu sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
  2. Làm rõ thêm thực trạng của các hình thức sở hữu cơ bản trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
  3. Đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Về ý nghĩa lý luận và thực tiễn, luận án:

  • Cung cấp thêm tri thức về vấn đề sở hữu và vai trò của các hình thức sở hữu ở Việt Nam hiện nay.
  • Nội dung nghiên cứu và kết quả có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và nghiên cứu vấn đề sở hữu ở Việt Nam hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Luận án không có phần riêng nêu hạn chế. Tuy nhiên, căn cứ vào phạm vi nghiên cứu đã xác định, có thể nhận thấy một số giới hạn nội tại:

  • Phạm vi thời gian giới hạn trong khoảng 15 năm trước năm 2013, do đó chưa bao quát các chuyển biến sau thời điểm bảo vệ.
  • Phương pháp nghiên cứu hoàn toàn là định tính; các lập luận về thực trạng chưa được kiểm chứng bằng số liệu định lượng hệ thống.
  • Kinh nghiệm quốc tế được dẫn chiếu (Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên, Mỹ) mang tính minh họa, chưa có phân tích so sánh có hệ thống.
  • Các giải pháp đề xuất mang tính định hướng chính sách vĩ mô, chưa có lộ trình cụ thể và tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể bao gồm: phân tích định lượng về đóng góp của từng thành phần kinh tế theo hình thức sở hữu vào GDP; nghiên cứu so sánh có hệ thống với kinh nghiệm của các nền kinh tế chuyển đổi khác; và cập nhật thực trạng sau giai đoạn tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước từ sau năm 2013.


Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo cho các nhóm sau:

  • Nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành triết học, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế chính trị Mác - Lênin, có thể tham khảo Chương 2 về hệ thống hóa lý luận sở hữu và các phạm trù liên quan.
  • Giảng viên và nghiên cứu sinh ngành kinh tế học, quản trị công, chính sách công có thể tham khảo Chương 3 về phân tích thực trạng vai trò các hình thức sở hữu và Chương 4 về các nhóm giải pháp chính sách.
  • Người làm chính sách trong các lĩnh vực quản lý doanh nghiệp nhà nước, phát triển kinh tế tư nhân, hợp tác xã có thể tham khảo phần thực trạng và giải pháp.
  • Người nghiên cứu lịch sử tư tưởng kinh tế về giai đoạn đổi mới ở Việt Nam có thể tham khảo Chương 1 với hệ thống điểm lại các công trình từ những năm 1990 đến đầu thập niên 2010.

Phần đáng tham khảo nhất là Chương 1 — với danh mục và tóm lược tương đối có hệ thống các công trình nghiên cứu về sở hữu trong bối cảnh Việt Nam từ thời đổi mới — và Chương 2 — với khung lý luận phân biệt các phạm trù sở hữu theo quan điểm mác-xít.


Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định nguyên nhân cốt lõi nào dẫn đến những yếu kém trong nền kinh tế Việt Nam thời điểm nghiên cứu?

Theo tác giả, một trong những nguyên nhân dẫn đến nền kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng và sức cạnh tranh thấp, chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm là do vai trò của các hình thức sở hữu chưa được phát huy đầy đủ. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về vấn đề sở hữu chưa đồng bộ và thống nhất; những bất cập trong quản lý, phân phối chưa được giải quyết tốt; còn có sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế.

2. Luận án phân biệt "sở hữu" và "quyền sở hữu" như thế nào theo quan điểm mác-xít?

Theo tác giả (dẫn từ Nguyễn Đình Kháng và các tác giả khác được điểm lại), chủ nghĩa Mác quan niệm sở hữu là quan hệ kinh tế, là cơ sở của các quan hệ sản xuất xã hội; còn quyền sở hữu là sự phản ánh những quan hệ đó trong pháp luật. Sự lẫn lộn giữa hai khái niệm này dẫn đến ảo tưởng quy quyền lợi thực tế thành ý chí thuần túy — dẫn đến tình trạng một người có quyền sở hữu trên danh nghĩa nhưng không có sở hữu thực tế.

3. Theo luận án, tại sao việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam là tất yếu?

Tác giả tổng hợp từ nhiều công trình (đặc biệt Đặng Hữu Toàn) ba lý do: thứ nhất, Việt Nam phải trải qua thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế có tính chất quá độ; thứ hai, trong điều kiện lực lượng sản xuất chưa có sự phát triển đồng bộ thì phải đa dạng hóa hình thức sở hữu để tiếp tục thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; thứ ba, việc sử dụng nhiều trình độ, nhiều hình thức kinh tế với nhiều cấp độ khác nhau là cần thiết nhằm khai thác triệt để mọi năng lực sản xuất cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

4. Luận án nêu những vấn đề thực tiễn gì đang đặt ra đối với sở hữu tập thể (hợp tác xã) ở Việt Nam?

Theo tác giả, các hợp tác xã hiện còn giữ vị trí khiêm tốn trong cơ cấu kinh tế và đóng góp phần nhỏ bé vào sự tăng trưởng chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong thời kỳ bao cấp, kinh tế hợp tác xã đã phát huy những giá trị tích cực phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc. Tuy nhiên, khi chuyển sang thời kỳ hòa bình, người dân lao động trong hợp tác xã chưa thấy được lợi ích thiết thân của việc tham gia hợp tác xã nên không mặn mà với mô hình hợp tác xã kiểu cũ. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để xây dựng được những hợp tác xã kiểu mới hoạt động có hiệu quả trong cơ chế thị trường nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

5. Luận án đề xuất những hướng giải pháp nào cụ thể để phát huy vai trò của sở hữu nhà nước?

Theo tác giả (dẫn từ Tô Đức Hạnh và Nguyễn Văn Thức), để sở hữu nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo và thực hiện được vai trò chủ đạo của mình thì cần phải có những giải pháp hữu hiệu nhằm khắc phục những mặt hạn chế, yếu kém hiện nay. Cụ thể: nhà nước cần nắm vững những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế quốc dân; sớm loại bỏ những đặc quyền đặc lợi mà trước đây dành cho quốc doanh (từ thuế má, giá cả tín dụng, trợ cấp, địa vị của người quản lý); buộc các cơ sở quốc doanh phải ra sức phấn đấu nhằm hạ giá thành, tăng năng suất; tăng cường vai trò giám sát kiểm soát của hệ thống cơ quan lập pháp; bổ sung, điều chỉnh đồng bộ nhằm lấp khe hở, chống thất thoát tài sản quốc gia.


Kết luận

Luận án của Nguyễn Thị Huyền (2013) tiếp cận vấn đề sở hữu từ góc độ triết học mác-xít, tập trung vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam. Công trình xây dựng khung lý luận về các hình thức sở hữu và phân tích thực trạng vai trò của sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đóng góp chủ yếu là hệ thống hóa các quan điểm lý luận đã có, làm rõ thêm thực trạng tại Việt Nam trong giai đoạn khoảng 15 năm trước năm 2013, và đề xuất một số giải pháp chính sách tổng thể. Luận án có giá trị tham khảo chủ yếu trong giảng dạy triết học Mác - Lênin và kinh tế chính trị, phục vụ cho việc nghiên cứu giai đoạn chuyển đổi kinh tế của Việt Nam từ sau đổi mới đến đầu thập niên 2010.