Chương 1: Tổng quan về cấu trúc vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty bất động sản đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam -4- Chương 3: Kết quả nghiên cứu -5- CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN 1.1 Tổng quan về cấu trúc vốn 1.1 Cấu trúc vốn Cấu trúc vốn được hiểu là cơ cấu nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp mình. Cấu trúc vốn được đo lường thông qua các chỉ tiêu như tỷ suất nợ (Nợ phải trả trên tổng tài sản), tỷ suất tự tài trợ (Vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản) hay tỷ suất nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu. Về lý thuyết, cấu trúc vốn hiện đại dựa trên những giả định lần đầu tiên được đưa ra bởi Modigliani và Miller (1958). Từ đó, một số lý thuyết về cấu trúc vốn giải thích cho sự khác biệt trong việc lựa chọn cấu trúc vốn của doanh nghiệp được phát triển.
Trong đó, đáng chú ý nhất là 2 lý thuyết giải thích mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp, bao gồm: lý thuyết tĩnh về đánh đổi và lý thuyết về trật tự phân hạng. Về thực nghiệm, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp, bao gồm: lợi nhuận, sự tăng trưởng của doanh nghiệp, rủi ro kinh doanh, qui mô của doanh nghiệp…. Tuy nhiên, chiều hướng tác động của các nhân tố này đến cấu trúc vốn là không hoàn toàn giống nhau trong các nghiên cứu trước đây.2 Đo lƣờng cấu trúc vốn Cấu trúc vốn là một khái niệm trừu tượng, do đó các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này đã được thực hiện dựa trên nhiều cách đo lường khác nhau. Đây là một -6- vấn đề cần quan tâm vì mỗi cách đo lường khác nhau đều ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.
Vấn đề thường quan tâm khi đo lường cấu trúc vốn đó là giá trị thị trường hay giá trị sổ sách sẽ được sử dụng để xác định giá trị của tài sản và các khoản nợ phải trả khi xem xét cấu trúc vốn? Có hai dòng tranh luận đối lập về vấn đề này. Theo trường phái sử dụng giá sổ sách, chi phí cơ bản của các khoản vay là chi phí kỳ vọng của sự khánh tận về tài chính trong trường hợp phá sản. Trong trường hợp đó, giá trị của một doanh nghiệp bị khánh tận sẽ gần với giá trị sổ sách. Nếu việc phá sản xảy ra, việc đo lường trách nhiệm đối với các chủ nợ theo giá trị sổ sách kế toán là chính xác nhất.
Ngoài ra, giá trị sổ sách dễ tiếp cận hơn giá trị trường, ghi nhận chính xác hơn và không bị lệch so với sự thay đổi như giá trị thị trường. Giá trị sổ sách còn phù hợp khi xác định cấu trúc vốn đối với các công ty không yết giá hay các doanh nghiệp nhỏ. Nếu sử dụng giá sổ sách thì giá trị của nợ và tài sản được sử dụng theo giá trị trên Bảng cân đối kế toán. Trường phái giá trị thị trường cho rằng giá trị thị trường xác định được giá trị thực của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp có giá trị vốn chủ sở hữu âm trên sổ kế toán nhưng lại có giá thị trường dương. Điều này có thể xảy ra nếu hoạt động kinh doanh trước đây thua lỗ làm vốn chủ sở hữu có giá trị âm, nhưng giá thị trường dương phản ánh các dòng tiền kỳ vọng tương lai của doanh nghiệp đó. Vì vậy, nhiều nghiên cứu sử dụng cả giá trị thị trường và giá trị sổ sách để đo lường cấu trúc vốn như nghiên cứu của Titman và Wessel (1988), Huang và Song (2002). Tóm lại, ta có thể đưa ra các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn của doanh nghiệp như sau: -7- Chỉ tiêu Cách đo lƣờng Nợ phải trả Tỷ lệ nợ phải trả trên tài sản Tổng tài sản Nợ dài hạn Tỷ lệ nợ dài hạn trên tài sản Tổng tài sản Tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở Nợ phải trả hữu Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản Tổng tài sản Tỷ lệ nợ phải trả trên tài sản: Tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối với các chủ nợ.
Thông thường các chủ nợ muốn tỷ số nợ trên tổng tài sản vừa phải vì tỷ số này càng thấp thì khoản nợ càng được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp lại muốn tỷ số này cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp. Tỷ số này cao thể hiện sự bất lợi đối với các chủ nợ nhưng lại có lợi cho chủ sở hữu nếu đồng vốn được sử dụng có khả năng sinh lợi cao. Tuy nhiên, nếu tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản quá cao, doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
Để có nhận xét đúng đắn về tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản cần phải kết hợp với các tỷ số khác, tuy nhiên tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản cao, trong tương lai doanh nghiệp sẽ khó huy động tiền vay để tiến hành sản xuất kinh doanh. -8- Tỷ lệ nợ dài hạn trên tài sản: Hệ số nợ dài hạn trên tổng tài sản so sánh tương quan nợ với tổng tài sản của một công ty, và có thể cho biết những thông tin hữu ích về mức độ tài trợ cho tài sản bằng nợ dài hạn của một công ty, hệ số này có thể dùng để đánh giá hiệu ứng đòn bẩy tài chính của một công ty. Tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu: Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu là chỉ số phản ánh quy mô tài chính của công ty. Nó cho biết về tỷ lệ giữa hai nguồn vốn cơ bản (nợ và vốn chủ sở hữu) mà doanh nghiệp sử dụng để chi trả cho hoạt động của mình.
Hai nguồn vốn này có những đặc tính riêng biệt và mối quan hệ giữa chúng được sử dụng rộng rãi để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp. Trong đó, nợ của doanh nghiệp bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Vốn chủ sở hữu hay vốn cổ phần của cổ đông gồm cổ phần thông thường, cổ phần ưu đãi, các khoản lãi phải trả và nợ ròng. Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu giúp nhà đầu tư có một cái nhìn khái quát về sức mạnh tài chính, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp và làm thế nào doanh nghiệp có thể chi trả cho các hoạt động.
Hệ số này càng nhỏ, có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng tài sản hay tổng nguồn vốn thì doanh nghiệp ít gặp khó khăn hơn trong tài chính. Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng gặp khó khăn trong việc trả nợ hoặc phá sản của doanh nghiệp càng lớn. Trên thực tế, nếu nợ phải trả chiếm quá nhiều so với nguồn vốn chủ sở hữu có nghĩa là doanh nghiệp đi vay mượn nhiều hơn số vốn hiện có, nên doanh nghiệp có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc biệt là doanh nghiệp càng gặp nhiều khó khăn hơn khi lãi suất ngân hàng ngày một tăng cao. Các chủ nợ hay ngân hàng cũng thường xem xét, đánh giá kỹ tỷ lệ nợ (và một số chỉ số tài chính khác) để quyết định có cho doanh nghiệp vay hay không.
-9- Tuy nhiên, việc sử dụng nợ cũng có một ưu điểm, đó là chi phí lãi vay sẽ được trừ vào thuế thu nhập doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp phải cân nhắc giữa rủi ro về tài chính và ưu điểm của vay nợ để đảm bảo một tỷ lệ hợp lý nhất. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản: Hệ số vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản so sánh tương quan vốn chủ sở hữu với tổng tài sản của một công ty, hệ số này cho thấy sức mạnh tài chính và khả năng chi trả của doanh nghiệp. Tỷ lệ này càng lớn cho thấy công ty ít đầu tư vào những dự án rủi ro, do vậy tỷ suất sinh lời sẽ thấp.3 Các lý thuyết về cấu trúc vốn 1.1Lý thuyết của MM trong môi trƣờng không có thuế Trước năm 1958, lý thuyết về cấu trúc vốn chỉ là những quả quyết mơ hồ về hành vi của nhà đầu tư hơn là những mô hình nghiên cứu đơn giản.
Lý thuyết hiện đại về cấu trúc vốn khởi đầu từ năm 1958 khi hai giáo sư Franco Modigliani và Merton Miller chứng minh rằng: giá trị của doanh nghiệp sẽ không bị ảnh hưởng bởi cấu trúc vốn theo một số giả thuyết. Kết quả nghiên cứu này cho rằng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tài trợ bằng nguồn vốn gì không là vấn đề cần quan tâm vì cấu trúc vốn độc lập với giá trị doanh nghiệp. Nghĩa là: Trong đó: VL, VU là giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ và không sử dụng nợ. kSU là tỷ lệ hoàn vốn yêu cầu đối với doanh nghiệp không sử dụng nợ EBIT là lợi nhuận trước thuế và lãi vay.
Lý thuyết trên dựa vào các giả thuyết sau: - 10 - Cổ phiếu và trái phiếu được kinh doanh trên thị trường hoàn hảo. Nghĩa là không có các chi phí môi giới và nhà đầu tư có thể vay hay cho vay với cùng một lãi suất. Nhà đầu tư và nhà quản trị tại doanh nghiệp đều có thông tin như nhau về cơ hội tăng trưởng đầu tư của doanh nghiệp trong tương lai. Tất cả các nhà đầu tư đều hợp lý và có kỳ vọng đồng nhất về lợi nhuận của một doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp hoạt động dưới các điều kiện tương tự sẽ có cùng mức độ rủi ro kinh doanh. Không có thuế thu nhập. Tuy nhiên, các giả thuyết của mô hình MM đều rất lý tưởng. Trước hết, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân, cũng như sự bất cân xứng về thông tin đều tồn tại trên thực tế.
Hai là, lãi suất vay thường tăng khi sử dụng nợ ngày càng tăng lên. Ba là, lợi nhuận sau thuế và lãi vay giảm với những mức độ sử dụng nợ khác nhau và khả năng phá sản gia tăng khi doanh nghiệp sử dụng tăng các khoản nợ để tài trợ. Mặc dù các giả thuyết trên đều không tồn tại trên thực tế nhưng kết quả nghiên cứu từ mô hình MM có ý nghĩa rất lớn.