phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: + Chƣơng 1: Tổng quan về xử lý nợ xấu tại ngân hàng thƣơng mại. + Chƣơng 2: Thực trạng xử lý nợ xấu tại ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vƣợng. + Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện xử lý nợ xấu tại ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vƣợng. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Nợ xấu của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm nợ xấu Bản chất của kinh doanh tiền tệ chính là “kinh doanh rủi ro”, và nợ xấu vì vậy là một phần tất yếu trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Nợ xấu cũng có thể đƣợc định nghĩa là các khoản nợ không trả đƣợc - defaulted loans - mà ngân hàng không thể thu lợi từ nó (Ernst & Young, 2004). Nợ xấu đƣợc hiểu là những khoản cho vay có thể gây tổn hại cho các hoạt động tài chính của các tổ chức ngân hàng (Berger and De Young, 1997).
Thông thƣờng, các khoản vay quá hạn gốc và lãi trong một thời gian dài trái với các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đƣợc coi là khoản nợ xấu (Bank of Ghana, 2008). Nợ xấu đƣợc mô tả là các khoản cho vay quá hạn thanh toán ít nhất 90 ngày (Alton and Hazen, 2001; Guy, 2011), là các khoản cho vay không thanh toán đầy đủ lãi và/hoặc gốc 90 ngày trở lên (Bexley and Nenninger, 2012). Tại Việt Nam Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam ngày 22/4/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng, và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quyết định 493 thì Nợ xấu đƣợc hiểu nhƣ sau: 5 Nợ xấu là những khoản nợ đƣợc phân loại vào nhóm 3 (nợ dƣới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7 của Quyết định này. Theo đó, nợ xấu đƣợc xác định dựa trên 2 yếu tố: đã quá hạn một phần hoặc toàn bộ gốc và/hoặc lãi trên 90 ngày và khả năng trả nợ đáng lo ngại.
Có thể hiểu khái quát nợ xấu là những khoản nợ mang các đặc trƣng: + Khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng khi các cam kết với ngân hàng đã hết hạn. + Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hƣớng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu đƣợc cả vốn gốc lẫn lãi. + Tài sản đảm bảo đƣợc đánh giá là giá trị phát mãi không đủ để thu hồi cả vốn gốc và lãi. + Về thời gian là các khoản nợ quá hạn trên 90 ngày.
Phân loại nợ xấu 1. Phân loại nợ của Ngân hàng thƣơng mại Nợ đƣợc phân thành 5 nhóm: nợ đủ tiêu chuẩn (Current), nợ cần chú ý (Other loans especially mentioned - OLEM), nợ dƣới tiêu chuẩn (Substandard), nợ nghi ngờ (Doubtful), nợ có khả năng mất vốn (Loss) (Bank of Ghana, 2008). Một số nhà nghiên cứu lƣu ý rằng một số quốc gia sử dụng tiêu chí định lƣợng ví dụ nhƣ số ngày quá hạn thanh toán, trong khi nhiều quốc gia khác dựa trên tiêu chí chất lƣợng nhƣ thông tin về tình trạng tài chính của khách hàng và đánh giá mức độ thu hồi các khoản thanh toán trong tƣơng lai để phân loại nợ ( Bloem and Gorter, 2001). 6 Tại Việt Nam, nợ đƣợc phân loại theo phƣơng pháp định lƣợng và định tính, theo đó nợ đƣợc phân thành 5 nhóm: nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dƣới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn.
Phân loại nợ xấu Nợ xấu đƣợc phân vào ba nhóm với khả năng thu hồi giảm dần: + Nợ nhóm 3: nợ dƣới tiêu chuẩn + Nợ nhóm 4: nợ nghi ngờ + Nợ nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn 1. Chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu Tổng số nợ xấu: Đây là chỉ tiêu phản ánh giá trị tuyệt đối của toàn bộ khoản nợ xấu của ngân hàng thƣơng mại. Giá trị này càng lớn cho thấy ngân hàng có rủi ro mất vốn càng cao. Tỷ lệ nợ xấu/ tổng dƣ nợ: Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng tín dụng của NHTM, cho biết có bao nhiêu đồng đang bị phân loại vào nợ xấu trên 100 đồng cho vay của ngân hàng.
Tỷ lệ này cao và có xu hƣớng tăng lên thể hiện ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc quản lý chất lƣợng các khoản cho vay. Ngƣợc lại, tỷ lệ này thấp hơn so với những năm trƣớc thể hiện chất lƣợng các khoản tín dụng đƣợc cải thiện, hoặc có thể ngân hàng đang có chính sách xóa các khoản nợ xấu hay thay đổi cách phân loại nợ. Cơ cấu nợ xấu theo nhóm nợ: Chỉ tiêu này phản ánh thực tế mức độ rủi ro tín dụng và nguy cơ mất vốn của ngân hàng theo từng nhóm nợ khác nhau. Nếu nợ nhóm 5 chiếm tỷ trọng càng cao trong tổng nợ xấu thì nguy cơ mất vốn của ngân hàng càng cao.
Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu Nguyên nhân chủ quan Năng lực thanh tra, giám sát, điều hành và quản trị rủi ro của NHTM chƣa tốt khiến cho việc quản lý nợ của ngân hàng thiếu chặt chẽ và góp phần làm nợ xấu phát sinh (Berger and De Young, 1997). Chính sách tín dụng của NHTM không phù hợp hoặc không đƣợc chấp hành nghiêm túc (Berger and De Young, 1997). Việc cho vay dễ dàng, thiếu kiểm soát cộng với những bất cập trong việc phân hạn mức phê duyệt cho vay đối với các cấp của NHTM tất yếu sẽ dẫn đến nợ xấu cho ngân hàng. Công tác thẩm định và định giá tài sản bảo đảm chƣa hiệu quả (Bloem and Gorter, 2001).
Điều này khiến giá trị tài sản bảo đảm cho khoản vay không đƣợc xác định đúng, thông tin về tài sản bảo đảm nhƣ thông tin quy hoạch, môi trƣờng xung quanh, tình trạng tranh chấp… không đƣợc thu thập đầy đủ dẫn đến nợ xấu phát sinh khi khách hàng không có khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo không đủ giá trị để thu hồi, hoặc xảy ra sự cố với tài sản bảo đảm trong quá trình khoản vay đã đƣợc giải ngân dẫn đến ngân hàng không còn đƣợc quyền quản lý tài sản bảo đảm đó nữa. Việc dự báo giá trị tƣơng lai của tài sản bảo đảm không sát thực tế cũng là nguyên nhân góp phần làm nợ xấu phát sinh. Công tác kiểm tra sau cho vay, quản lý và giám sát đối với tài sản đảm bảo chƣa đƣợc chú trọng (Bloem and Gorter, 2001). Việc thiếu chú trọng trong công tác kiểm tra sau cho vay làm tăng rủi ro nợ xấu cho ngân hàng vì những dấu hiệu phát sinh nợ xấu không đƣợc phát hiện và khắc phục kịp thời.
Bên cạnh đó việc thiếu giám sát và quản lý đối với tài sản đảm bảo nhƣ việc định giá lại tài sản bảo đảm theo định kỳ chƣa đƣợc tiến hành nghiêm túc, không cập nhật tình trạng tài sản đúng thực tế khiến ngân hàng không thu hồi đƣợc nợ trong trƣờng hợp tài sản đảm bảo xuống cấp, khách hàng bán tài sản đảm bảo không thông qua ngân hàng, giá thị trƣờng của tài sản bị sụt giảm nghiêm trọng … 8 Cán bộ ngân hàng thiếu đạo đức nghề nghiệp, yếu kém về trình độ nghiệp vụ (Rouse, 1989). Nguyên nhân này góp phần làm nợ xấu phát sinh và gia tăng do việc cán bộ ngân hàng cố tình cho vay sai quy định nhằm thu lợi ích riêng cho bản thân hoặc vì lợi ích riêng của một nhóm ngƣời có liên quan. Việc cán bộ ngân hàng yếu kém về trình độ nghiệp vụ thể hiện qua việc không phát hiện ra những bất ổn về tài chính hay dấu hiệu lừa đảo của khách hàng hoặc cán bộ ngân hàng thiếu am hiểu thị trƣờng, thiếu thông tin, phân tích thông tin không đầy đủ dẫn đến quyết định cho vay không hợp lý. Nguyên nhân khách quan Nguyên nhân từ phía khách hàng Khách hàng vay vốn sử dụng vốn vay sai mục đích, thiếu thiện chí trả nợ, cố ý lừa đảo, bỏ trốn.
Đây hành động có chủ ý của ngƣời vay, đƣợc tính toán chuẩn bị trƣớc nhằm mục đích chiếm đoạt tiền vay của ngân hàng. Khách hàng tìm cách làm giả mạo giấy tờ, chữ ký, con dấu, hoặc điều chỉnh các báo cáo tài chính, hay làm các hóa đơn, chứng từ mua bán khống…để vay đƣợc vốn của Ngân hàng sau đó sử dụng tiền vay không đúng mục đích, không trả nợ. Trƣờng hợp này không nhiều, tuy nhiên, khi vụ việc phát sinh lại ảnh hƣởng hết sức nặng nề, ngân hàng khó thu hồi đƣợc nợ, có nguy cơ bị mất vốn hoàn toàn hoặc chỉ thu hồi đƣợc một phần, làm liên quan đến uy tín của cán bộ, làm ảnh hƣởng xấu đến các doanh nghiệp khác. Khách hàng vay vốn thiếu năng lực điều hành, quản lý vốn không hợp lý, kinh doanh thua lỗ, hàng hóa không tiêu thụ đƣợc, công nợ của khách hàng vay vốn không thu hồi đƣợc.
Do hạn chế về kiến thức kinh doanh nên khi lập các phƣơng án kinh doanh, các dự án đầu tƣ, doanh nghiệp đã không tính đến những biến động của thị trƣờng, đƣa ra những phƣơng án kinh doanh không hiệu quả, sản phẩm tạo ra không phù hợp với nhu cầu thị trƣờng, quản lý vốn lỏng lẻo nên bị các đơn vị khác chiếm dụng vốn quá nhiều, đầu tƣ dàn trải không hiệu quả, dẫn đến làm ăn thua lỗ, không trả đƣợc nợ cho ngân hàng. 9 Khách hàng gian lận báo cáo tài chính dẫn đến kết quả thẩm định của ngân hàng bị sai lệch. Nhiều khách hàng vay vốn chƣa tuân thủ quy định về việc cung cấp báo cáo tài chính trung thực, số liệu doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng chỉ mang tính hình thức, không phản ánh đúng tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp dẫn đến khi cán bộ ngân hàng phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp thƣờng thiếu tính thực tế và xác thực. Nguyên nhân liên quan đến môi trƣờng hoạt động kinh doanh Những biến đổi lớn về thời tiết, khí hậu, nhƣ tình trạng hạn hán, bão lụt, dịch bệnh (Goldstein and Turner, 1996).
Nguyên nhân này ảnh hƣởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp vay vốn, từ đó ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp đối với khoản vay ngân hàng. Tình hình an ninh, chính trị trong nƣớc, trong khu vực không ổn định (Bloem and Gorter, 2001).