phần mở đầu và phần kết luận, bài luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng với nội dung cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về hoạt động cho vay xuất khẩu của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động cho vay xuất khẩu tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát Triển Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay xuất khẩu tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát Triển Việt Nam. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY XUẤT KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
HOẠT ĐỘNG CHO VAY XUẤT KHẨU CỦA NHTM 1. Khái niệm và đặc điểm của cho vay xuất khẩu 1. Khái niệm cho vay xuất khẩu Trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng, thƣơng mại thế giới ngày càng mở rộng, nhu cầu về hàng hóa, thị trƣờng tiêu thụ trở nên cấp bách, mỗi doanh nghiệp tham gia vào thƣơng mại quốc tế cần phải khai thác tối đa cơ hội, lợi thế của mình. Tuy nhiên do khả năng tài chính có hạn, các doanh nghiệp không phải lúc nào cũng có đủ vốn để thanh toán tiền thu mua hàng hóa để sản xuất sản phẩm xuất khẩu.
Bên cạnh đó nhiều doanh nghiệp đủ khả năng tài chính để xuất khẩu hàng hóa nhƣng kinh doanh vẫn không đạt hiệu quả vì chƣa có uy tín trên thị trƣờng. Từ đó nảy sinh quan hệ tín dụng giữa một bên là các ngân hàng với một bên là các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu. Tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng và sau một thời gian nhất định đƣợc quay trở lại ngƣời sở hữu một lƣợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Cho vay xuất khẩu là loại hình tài trợ xuất khẩu cơ bản, quan trọng và phổ biến nhất trong các loại hình tài trợ xuất khẩu, có bản chất là sự cung cấp tín dụng trợ giúp tài chính cho ngƣời xuất khẩu trên cơ sở bên cung cấp tín dụng và bên nhận tín dụng tin cậy lẫn nhau và cùng có lợi.
Ta có thể hiểu “Cho vay xuất khẩu là sự cam kết, hỗ trợ về mặt tài chính để các nhà xuất khẩu nƣớc sở tại đẩy mạnh sản xuất, khuyến khích xuất khẩu, đồng thời giúp các nhà nhập khẩu nƣớc ngoài có đủ các điều kiện về tài chính để nhập khẩu hàng hoá của nƣớc đó” (Nguyễn Thị Kim Phƣợng, 2008, trang 51). 5 Mục đích của cho vay xuất khẩu là đẩy mạnh sản xuất trong nƣớc, khuyến khích xuất khẩu. Đây còn là một kênh tái tạo ngoại tệ để phục vụ hoạt động nhập khẩu của ngân hàng. Đặc điểm cho vay xuất khẩu - Cho vay tài trợ xuất khẩu là hoạt động có rủi ro khá cao do các biến động khó lƣờng của thị trƣờng quốc tế cũng nhƣ thị trƣờng nội địa (ngoài ra, còn có các rủi ro khác nhƣ rủi ro về tỷ giá, từ hệ thống pháp luật, rủi ro trong trƣờng hợp có gian lận thƣợng mại, rủi ro trong thanh toán.
- Các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu thƣờng có vốn chủ sở hữu thấp, tài sản cố định thấp nhƣng có doanh số hoạt động lớn, vòng quay vốn nhanh. - Các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu thƣờng có tính thời vụ, nhu cầu vốn chủ yếu tập trung vào một thời điểm nhất định và thời cơ kinh doanh là yếu tố quyết định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. - Cho vay các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu còn khó khăn trong việc đánh giá năng lực tài chính của các đối tác của khách hàng và trong việc kiểm tra sau giải ngân đối với các doanh nghiệp thu mua hàng xuất khẩu (đặc biệt là giải ngân bằng tiền mặt). Vì vậy, khi phục vụ các khách hàng là doanh nghiệp kinh doanh ngành hàng xuất khẩu, các Ngân hàng cần chú ý đến việc đánh giá kỹ về thị trƣờng, thời điểm, mặt hàng và phải gắn với quản lý nguồn thu của doanh nghiệp qua một đầu mối là tài khoản của doanh nghiệp mở tại Ngân hàng.
Ngân hàng cần đáp ứng kịp thời nhu cầu về nguồn vốn của doanh nghiệp đúng theo thời vụ của doanh nghiệp và cần gắn chặt việc cho vay với dịch vụ ngân hàng trọn gói cho các doanh nghiệp này, đặc biệt là dịch vụ thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ. Phân loại cho vay xuất khẩu Với hoạt động xuất khẩu ngày càng đa dạng, phức tạp và cạnh tranh gay gắt, vai trò hỗ trợ của ngân hàng là cực kỳ quan trọng. Các ngân hàng không chỉ hỗ trợ về mặt 6 tài chính để nhà xuất khẩu hoàn tất nghĩa vụ thanh toán mà còn hỗ trợ về mặt kỹ thuật, đảm bảo quá trình thanh toán cho những hoạt động chu chuyển với nƣớc ngoài, đồng thời đảm nhận những rủi ro gắn liền với các hoạt động đó. Các hình thức của hoạt động cho vay xuất khẩu gồm: Thứ 1.
Theo thời hạn - Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dƣới một năm, thƣờng đƣợc sử dụng cho vay bổ sung vốn lƣu động phục vụ sản xuất kinh doanh của các đơn vị, chiếm tỷ trọng lớn tại ngân hàng: cho vay để thu mua chế biến hàng xuất khẩu, thanh toán các chi phí hợp lý,. - Tín dụng trung và dài hạn: thời hạn của tín dụng trung và dài hạn tuỳ theo quy định của mỗi nƣớc, ở Việt Nam tín dụng trung hạn có thời hạn từ 1-5 năm, tín dụng dài hạn từ 5 năm trở lên. Hình thức tín dụng này đƣợc cung cấp để đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, xây dựng mới, cải tạo mở rộng, khôi phục, cải tiến thiết bị,.phục vụ cho hoạt động xuất khẩu. Theo thời điểm giao hàng - Cho vay trƣớc khi giao hàng: là việc tài trợ vốn lƣu động để Doanh nghiệp xuất khẩu thu mua, chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu theo đúng hợp đồng ngoại thƣơng đã ký kết.
Hình thức này đƣợc tiến hành trƣớc khi giao hàng. Thông thƣờng ngân hàng sẽ không tài trợ toàn bộ giá trị hàng hóa mà chỉ tài trợ khoảng 70% đến 80% giá trị lô hàng xuất khẩu, còn lại nhà xuất khẩu sẽ tự huy động. - Cho vay sau khi giao hàng: từ lúc giao hàng, nộp bộ chứng từ vào ngân hàng thông báo cho đến khi đƣợc ghi Có trên tài khoản phải trải qua một khoảng thời gian nhất định để xử lý và luân chuyển chứng từ. Nhà xuất khẩu cần tiền có thể thƣơng lƣợng bộ chứng từ để chiết khấu hoặc ứng trƣớc tiền tại Ngân hàng.
Hình thức tài trợ này đƣợc tiến hành sau khi giao hàng. Để đảm bảo cho khoản tín dụng thu hồi nợ dễ dàng nhanh chóng, ngân hàng thƣơng mại thƣờng yêu cầu việc thanh toán của khách 7 hàng phải đƣợc thông báo qua ngân hàng, ngân hàng tài trợ vừa là ngân hàng thông báo, đƣợc thể hiện qua các hình thức sau: + Chiết khấu hối phiếu (đối với bộ chứng từ xuất khẩu có hối phiếu kèm theo): Ngân hàng có thể thanh toán căn cứ trên các phƣơng thức thanh toán L/C, D/A, D/P, TT hoặc CAD. Khi chiết khấu bộ chứng từ phải xuất trình đúng thời gian quy định. Ngân hàng Nhà nhập khẩu phải có uy tín trên thị trƣờng quốc tế và có quan hệ giao dịch thƣờng xuyên với Ngân hàng chiết khấu.
Tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp ổn định và đảm bảo khả năng thanh toán, có uy tín với ngân hàng. Số tiền chiết khấu phải nằm trong hạn mức tín dụng (đối với chiết khấu theo hạn mức tín dụng đã đƣợc cấp trƣớc đó). Sau khi tiếp nhận hồ sơ từ phía khách hàng, ngân hàng thẩm định về mục đích vay, tình hình tài chính, khả năng thanh toán,…Ngân hàng kiểm tra bộ chứng từ một cách cẩn thận và hợp lý bởi vì nếu bộ chứng từ không hợp lý có thể bị từ chối thanh toán, ngân hàng khó thu hồi nợ. Ngân hàng kiểm tra sự phù hợp trên bề mặt chứng từ so với các điều kiện, điều khoản đã ghi trong Hợp đồng và phƣơng thức thanh toán tƣơng ứng.
Ngân hàng xem xét quyết định tỷ lệ chiết khấu, hiện nay vào khoảng 70-98% giá trị bộ chứng từ hàng xuất. Trƣờng hợp bộ chứng từ không hội đủ điều kiện chiết khấu, thì tỷ lệ tỷ lệ chiết khấu khoảng 50 – 60% giá trị bộ chứng từ hàng xuất. Trên thực tế tuỳ từng ngân hàng, từng trƣờng hợp cụ thể sẽ quyết định một tỷ lệ chiết khấu nhất định. Có hai hình thức chiết khấu: Chiết khấu có truy đòi là hình thức chiết khấu mà ngân hàng sau khi thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu có quyền đòi tiền nhà xuất khẩu nếu bộ chứng từ không đƣợc thanh toán.
8 Chiết khấu miễn truy đòi là hình thức chiết khấu mà ngân hàng sau khi thanh toán cho nhà xuất khẩu không có quyền truy đòi tiền nhà xuất khẩu nếu bộ chứng từ không đƣợc thanh toán. Hiện nay đa số ngân hàng đều thực hiện chiết khấu có truy đòi. + Ứng trƣớc tiền hàng đối với bộ chứng từ hàng xuất: trƣờng hợp bộ chứng từ hàng xuất không có hối phiếu kèm theo, Ngân hàng có thể áp dụng hình thức ứng trƣớc tiền hàng đối với bộ chứng từ hàng xuất với các nội dung tƣơng tự chiết khấu nêu trên. Ngân hàng thực hiện thu nợ bằng cách gửi bộ chứng từ ra nƣớc ngoài để đòi nợ, trong một thời gian cụ thể theo quy định của mỗi Ngân hàng kể từ ngày gửi chứng từ đòi tiền mà không nhận đƣợc báo Có của ngân hàng nƣớc ngoài, Ngân hàng tự động ghi Nợ tài khoản tiền gửi của khách hàng.
Nếu trên tài khoản của khách hàng không đủ tiền thì Ngân hàng sẽ chuyển số tiền chiết khấu hoặc ứng trƣớc sang nợ quá hạn. Khi đƣợc thanh toán từ phía ngân hàng nƣớc ngoài sẽ thực hiện khấu trừ trực tiếp khoản tiền vay cùng các chi phí có liên quan. + Bao thanh toán xuất khẩu – factoring: Bao thanh toán là một loại hình tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ. Đây là hình thức tài trợ ngắn hạn đối với nhà xuất khẩu của ngân hàng.
Ngân hàng sẽ mua lại các chứng từ thanh toán, các khoản nợ chƣa đến ngày thanh toán, họ sẽ trực tiếp đòi nợ ngƣời nhập khẩu và thu khoản phí của nhà xuất khẩu. Factoring giúp doanh nghiệp xuất khẩu có ngay vốn để sản xuất kinh doanh ngay khi bán xong hàng, giảm các khoản phải thu còn tồn đọng, giảm chi phí cho việc thu hồi nợ.