đặt vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lên hàng đầu. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Hoạt động của doanh nghiệp là hoạt động kinh tế nhằm mang lại lợi nhuận thông qua sản xuất kinh doanh, thành bại của một doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất là ba yếu tố: khả năng cung ứng tích luỹ, đổi mới sử dụng vốn, trình độ quản lý và thị trường. Kinh doanh hiện đại ngày nay là sự tập hợp cả ba thế lực: Nhà kinh doanh, bạn hàng - khách hàng và các nhà khoa học gồm cả nhà làm luật về kinh doanh. Doanh nghiệp vừa là người bán vừa là người mua.
Khi là người mua họ bị giới hạn bởi nguồn lực tài chính, do vậy vấn đề cốt lõi là làm sao sử dụng nguồn lực hiệu quả chứ không phải đòi thêm nguồn lực. Khi là người bán họ bị giới hạn bởi nhu cầu sức mua, thị hiếu., nếu hàng không bán được, khó bán sẽ khó có khả năng tái tạo nguồn 15 lực tài chính ban đầu. Do vậy hoạt động của doanh nghiệp là hoạt động tạo ra và tái tạo lại nguồn lực tài chính. Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là một trong những nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận, đến quyền lợi đến mục đích cao nhất của doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng có nghĩa là nâng cao lợi nhuận, chẳng có một lý do nào để doanh nghiệp có thể từ chối việc làm đó. Như vậy ta có thể nhận thấy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là một việc làm thiết yếu của bất kỳ một doanh nghiệp nào, người ta không thể từ chối thu một khoản lợi nhuận hay doanh thu nhiều hơn trên một đồng vốn bỏ ra mà ngược lại họ muốn thu ngày càng nhiều từ việc bỏ ra một cùng một lượng vốn ban đầu của mình hay với cùng một lượng tiền thu về từ hoạt động sản xuất kinh doanh như năm trước nhưng năm nay doanh nghiệp phải bỏ ra cho nó một lượng chi phí ít hơn. Có thể tổng quát một số lý do cơ bản, cụ thể làm nên sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp như sau: - Thứ nhất: Do sự tác động của cơ chế mới, cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Kinh tế thị trường theo đuổi một mục đích lớn và cốt yếu là lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng cao.
Tiền đề của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp là vốn, đồng vốn sản xuất kinh doanh phải có khả năng sinh lời mới là vấn đề cốt lõi liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp bởi thiếu vốn thì mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị “chết”. - Thứ hai: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Giờ đây người định đoạt số phận của doanh nghiệp chính là thị trường mà không phải là ai khác, song nhà nước cũng có vai trò nhất định của nó. Nếu sử dụng đồng vốn hiệu quả thì việc đáp ứng nhu cầu thị trường là điều không khó khăn đối với doanh nghiệp nữa.
- Thứ ba: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng là một nội dung cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt hiện nay thì 16 điều này càng được khẳng định chắc chắn hơn. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì điều kiện tiên quyết không thể thiếu được là doanh nghiệp phải xem xét vấn đề chất lượng sản phẩm, mẫu mã sản phẩm và phải quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, vấn đề này quyết định lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. - Thứ tư: Tình hình chung trong các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ta thì hiệu qủa sử dụng vốn sản xuất kinh doanh còn chưa cao. Thậm chí ngày càng giảm.
Do đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là một yêu cầu chung đối với các doanh nghiệp không riêng trong giai đoạn hiện nay. Việc sử dụng vốn có hiệu quả trở thành một yêu cầu khách quan của cơ chế hạch toán, đó là: kinh doanh tiết kiệm, có hiệu quả trên cơ sở tự chủ về mặt tài chính. Tóm lại, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một tất yếu trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt. Nó góp phần nâng cao khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất, tăng nhanh tốc độ hoạt động của doanh nghiệp nhằm đem lại cho doanh nghiệp lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng cao, góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội.
Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh: Hiệu quả sử dụng vốn sau cùng thường được xét về mặt lợi nhuận. Điều đó đúng và cần thiết nhưng hiệu quả sử dụng không chỉ đánh giá bằng lợi nhuận mà còn dùng nhiều phương pháp khác nhau, theo các góc độ khác nhau mới có thể nhìn toàn diện. Sau đây là một số chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu đặc trưng tài chính: Phân tích mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp và khả năng rủi ro về tài chính có thể xảy ra, được xem xét thông qua các chỉ tiêu sau đây: - Tỷ suất tài trợ là chỉ tiêu tài chính đo lường sự góp vốn của chủ sở hữu trong tổng vốn hiện của của doanh nghiệp Nguồn vốn chủ sở hữu Tỷ xuất tự tài trợ = Tổng nguồn vốn 17 Tỷ suất tài trợ càng lớn chứng tỏ vốn tự có của doanh nghiệp càng nhiều, có tính độc lập cao với các chủ nợ, do đó không bị ràng buộc hoặc bị sức ép của chủ nợ.
- Hệ số nợ là chỉ tiêu tài chính phản ánh trong một đồng vốn hiện nay doanh nghiệp đang sử dụng có mấy đồng vốn vay. Nợ phải trả Hệ số nợ = Tổng nguồn vốn Khi hệ số nợ cao thì doanh nghiệp có lợi vì được sử dụng một lượng tài sản lớn mà chỉ phải đầu tư một lượng vốn chủ sở hữu nhỏ, nhưng khả năng kiểm saot của chủ sở hữu bị hạn chế. - Tỷ suất đầu tư là tỷ lệ giữa tài sản cố định (giá trị còn lại) và vốn đầu tư dài hạn với tổng tài sản của doanh nghiệp. Giá trị còn lại tài sản cố định và đầu tư dài hạn Tỷ suất đầu tư = Tổng tài sản Tỷ suất này càng lớn thẻ hiện mức độ quan trọng của tài sản cố định trong tổng số tài sản của doanh nghiệp, phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Chỉ số sinh lời: Chỉ số sinh lời là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định và là một luận cứ quan trọng để các nhà hoạch định đưa ra các quyết định tài chính trong tương lai. - Vòng quay vốn thể hiện mỗi đồng vốn sử dụng bình quân làm ra bao nhiêu đồng doanh thu. Tổng doanh thu thuần Vòng quay vốn = Tổng số vốn sử dụng bình quân - Tỷ suất doanh lợi doanh thu thể hiện trong một đồng doanh thu mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ có mấy đồng lợi nhuận. 18 Lợi nhuận thực hiện Doanh lợi doanh thu = Doanh thu thuần - Tỷ suất doanh lợi tổng vốn là chỉ tiêu đo lường mức độ sinh lời của đồng vốn, phản ánh một đồng vốn bình quân được sử dụng trong kỳ tạo ra mấy đồng lợi nhuận.
Lợi nhuận thuần Doanh lợi tổng vốn = Vốn sản xuất bình quân - Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định và doanh lợi vốn lưu động là chỉ tiêu phản ánh lợi nhuận làm ra từ trên một đồng vốn cố định hoặc vốn lưu động bình quân. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp: a. Về khách quan: - Môi trường tự nhiên: là toàn bộ các yếu tố tự nhiên tác động đến doanh nghiệp như khí hậu, thời tiết… nếu làm việc trong môi trường tự nhiên thích hợp sẽ giúp tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả công việc, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn. - Môi trường kinh tế - tài chính: Bao gồm các nhân tố sau: + Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế: Nếu cơ sở hạ tầng phát triển thì sẽ giảm bớt được nhu cần vốn đầu tư của doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện tiết kiệm được chi phí trong kinh doanh.
+ Sự ổn định của nền kinh tế: Đây là một trong những nhân tố mà các nhà đầu tư rất quan tâm. Nền kinh tế ổn định tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận, đảm bảo được hiệu quả sử dụng vốn kỳ vọng của doanh nghiệp. Nền kinh tế bất ổn sẽ gây ra những rủi ro không lường trước được trong kinh doanh, tạo tâm lý thiếu an toàn cho nhà đầu tư, ảnh hưởng đến mục tiêu lợi nhuận. Vì thế, bên cạnh các điều kiện cần thiết cho việc phát triển hoạt động kinh doanh (như: thị trường, nguyên vật liệu, nhân công, chính sách khuyến khích đầu tư), các nhà đầu tư luôn chú ý tìm kiếm môi trường đầu tư có sự ổn định vĩ mô.
19 + Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước: Nhà nước điều tiết nền kinh tế chủ yếu thông qua các chính sách cơ bản là chính sách thuế, giá cả và lãi suất. Chính sách thuế: Thuế là công cụ quan trọng của Nhà nước để điều tiết nền kinh tế vĩ mô nói chung và điều tiết hoạt động của doanh nghiệp nói riêng. Chính sách thuế của Nhà nước có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mức thuế cao hay thấp sẽ làm cho lợi nhuận sau thuế ít hay nhiều, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Chính sách tỷ giá: Tỷ giá hối đoái vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ vừa biểu hiện quan hệ cung cầu về ngoại tê. Tỷ giá có tác động điều tiết cung cầu ngoại tệ, điều tiết sản xuất qua việc thúc đẩy hoặc hạn chế sản xuất hàng hóa xuất khẩu hay nhập khẩu.