CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu liên quan 1. Các nghiên cứu nước ngoài về xuất khẩu tôm và thủy sản Nghiên cứu của Farha (2020) về động lực thúc đẩy chế biến và xuất khẩu của ngành thuỷ sản của Bangladesh. Tác giả đã sử dụng mô hình nghiên cứu trọng lực (Gravity Model) với phạm vi nghiên cứu 40 quốc gia nhập khẩu thủy sản của Bangladesh.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng biến khoảng cách địa lý ảnh hưởng ngược chiều, GDP, dân số, GNI, có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động chế biến và xuất khẩu thủy sản. Ngoài ra, trong nghiên cứu, hai biến giả cụ thể là Hiệp định thương mại khu vực (RTA) và tiêu chuẩn HACCP cũng cho thấy sự ảnh hưởng tích cực đến xuất khẩu thủy sản. Nghiên cứu của Sandaruwan và cộng sự (2020) đánh giá sự ảnh hưởng của NTM về xuất khẩu thủy sản của Sru Lanka đối với các quốc gia áp dụng NTM với mặt hàng thủy sản của quốc gia này thông qua sử dụng mô hình nghiên cứu trọng lực (Gravity Model). Kết quả cho thấy rằng Các biện pháp phi thuế quan quan trọng nhất ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản Sri Lanka là Vệ sinh và Các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS), hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT) và kiểm tra trước khi giao hàng (PSI).
Ngoài ra, kết quả từ mô hình trọng lực cũng cho thấy rằng, thuế quan và khoảng cách đến nhà nhập khẩu có ảnh hưởng tiêu cực đến ngành xuất khẩu thủy sản và GDP của quốc gia nhập khẩu và Sri Lanka có ảnh hưởng tích cực đến ngành xuất khẩu thủy sản. Nghiên cứu của Fitriani và cộng sự (2019) về yếu tố ảnh huởng đến ngành xuất khẩu tôm với hai mặt hàng tôm đông lạnh và tôm tươi. Tác giả đã sử dụng mô hình nghiên cứu trọng lực (Gravity Model) và chỉ ra được các yếu tố như khoảng cách giữa quốc gia, dân số, giá, tỷ giá hối đoái, và FTA có ảnh hưởng đáng kể đến ngành xuất khẩu tôm đông lạnh của Indonesia. Nghiên cứu cũng chỉ ra, đối với mặt hàng tôm tươi, khoảng cách giữa quốc gia, dân số, thuế quan, tỷ giá hối đoái, và FTA là các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu của mặt hàng này.
Nghiên cứu của Muryani và cộng sự (2019) về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu tôm của Indonesia đến các quốc gia nhập khẩu. Kết quả chỉ ra rằng GDP của Indonesia và GDP của quốc gia nhập khẩu có tác động tích cực đến xuất khẩu. Ngoài ra, giá xuất khẩu và dân số cũng có tác động tích cực và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong 6 khi đó, khoảng cách địa lý có tác động ngược chiều đến hoạt động xuất khẩu tôm của Indonesia. Nghiên cứu của Dhar và cộng sự (2019) đánh giá các vấn đề kinh tế, môi trường và tính bền vững của việc nuôi tôm sinh thái ở Bangladesh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ học vấn của chủ hộ, quy mô nông hộ và kiến thức về sản xuất tôm sinh thái có ảnh hưởng tích cực và đáng kể trong việc áp dụng sản xuất tôm sinh thái của nông dân. Nuôi tôm sinh thái có thể giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường do nuôi tôm truyền thống gây ra. Khí hậu và môi trường thích hợp cho nuôi tôm sinh thái được coi là thế mạnh chính so với sản xuất tôm truyền thống được coi là cơ hội lớn của sản xuất tôm sinh thái. Nghiên cứu của Fabrizio và cộng sự (2015) đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại thủy sản trên thế giới trong giai đoạn 1990 – 2010.
Mô hình được áp dụng cho toàn bộ các mặt hàng thủy sản theo từng lĩnh vực như loại hình thương mại chính, công đoạn chế biến và bảo quản, nguồn gốc con giống,. Kết quả nghiên cứu chỉ ra các yếu tố gồm khoảng cách địa lý, số lượng nhà sản xuất xuất khẩu trong nước, GDP, thu nhập và biến giả RTA là các yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động thương mại thủy sản trên thế giới. Nghiên cứu của Mortazavi và cộng sự (2014) về tiềm năng xuất khẩu tôm của Iran đến các quốc gia là thành viên của Liên minh Châu Âu (EU) và xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu tôm tại quốc gia này. Bài báo đã sử dụng mô hình nghiên cứu trọng lực (Gravity Model) để phân tích với dữ liệu trong giai đoạn từ 1991 – 2011.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng GDP, khoảng cách địa lý giữa các quốc gia, vệ sinh an toàn thực phẩm và tỷ giá hối đoái là các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu tôm ở quốc gia này. Nghiên cứu của Anh Van Thi Nguyen và cộng sự (2009) về đánh giá tác động của các chính sách vệ sinh an toàn thực phẩm như: HACCP (1997) của Mỹ, MRPLs (2002) của EU, Food Safety Basic Law (2003) của Nhật Bản đến hoạt động nhập khẩu thủy sản của Mỹ, EU và Nhật Bản. Kết quả cho thấy, trong số các nhóm ngành thủy sản, xuất khẩu tôm từ các quốc gia khác đến Mỹ, EU và Nhật Bản là ngành bị ảnh hưởng nhiều nhất khi các chính sách này thực thi. Ngoài ra, các yếu tố gồm GDP, khoảng cách địa lý và mối quan hệ bền chặt giữa các thuộc địa đều có ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu 7 tôm của các quốc gia.
Nghiên cứu của Thamrong & Laura (2003) đánh giá vấn đề liên quan đến việc có tồn tại sự mâu thuẫn giữa phát triển ngành nuôi tôm và trồng lúa nước dưới tác động của các lệnh cấm của Thái Lan khi ngành nuôi trồng tôm trước đây ở Thái Lan đã gây ra những hậu quả về môi trường nghiêm trọng. Tác giả đã áp dụng mô hình nghiên cứu Cobb-Douglas theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên 224 nông dân ở khu vực hạ lưu hai con sông Bang Pakong và Chao Praya, nơi mà nông dân sống bằng cả hai hình thức nuôi trồng tôm và lúa nước. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hoàn toàn giữa hai ngành nghề không tồn tại sự mâu thuẫn vì hầu hết các nông dân ở đây đều sống bằng cả hai nghề nuôi trong tôm và lúa nước, cũng như nuôi trồng song song cả hai. Mặc khác, lệnh cấm nuôi trồng tôm dường như chỉ ám chỉ cho các hệ thống kỹ thuật nuôi trồng tôm cũ dùng cho khu vực ven bờ biển trước đây.
Các nghiên cứu trong nước về xuất khẩu tôm và thủy sản Nghiên cứu của Huy Quang Nguyen và cộng sự (2020) đánh giá các yếu tố tác động đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam và đề ra những chính sách phù hợp để phát triển ngành xuất khẩu thủy sản, tác giả đã sử dụng mô hình nghiên cứu trọng lực (Gravity Model) với phạm vi nghiên cứu là 20 quốc gia nhập khẩu hàng hóa thủy sản của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2018. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố gồm độ lớn của nền kinh tế, mức thu nhập của quốc gia nhập khẩu có ảnh hưởng mạnh mẽ đến xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Ngoài ra, một số biến giả được tác giả đưa vào như FTA, ASEAN, Europe, và North America cũng cho thấy có sự ảnh hưởng tích cực đến ngành xuất khẩu thủy sản quốc gia. Nghiên cứu của Mai Thị Cẩm Tú (2015) đã sử dụng mô hình nghiên cứu định lượng với phương pháp nghiên cứu kiểm định ADF với nguồn dữ liệu thứ cấp theo năm từ năm 1988 – 2013.
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, khối lượng đánh bắt cá và nuôi tôm, mức độ đầu tư vốn vào cơ sở hạ tầng cho sản xuất và xuất khẩu (cụ thể vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc) và mức thu nhập bình quân đầu người của Nhật tác động dương lên khối lượng xuất khẩu cá và tôm. Giá bán trong nước cá, tôm của Việt Nam, tỷ giá hối đoái thực, hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật tác động âm lên khối lượng xuất khẩu cá và tôm. Nghiên cứu của Trần Thanh Long và Phan Thị Quỳnh Hoa (2015) sử dụng mô hình 8 nghiên cứu trọng lực (Gravity Model) để phân tích tình hình xuất khẩu và các yếu tố ảnh hưởng đển xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2014, từ đó đề xuất ra các chính sách phù hợp để thúc đẩy sự phát triển của ngành thủy sản. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng GDP của Việt Nam và quốc gia nhập khẩu, GDP bình quân của Việt Nam và quốc gia nhập khẩu, tỷ giá, và các hiệp định thương mại có ý nghĩa thống kê và tác động đến ngành xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
Các nghiên cứu nước ngoài sử dụng mô hình trọng lực Nghiên cứu của Le Thi Bich Lien và cộng sự (2019) ước lượng sự tác động của các yếu tố đến xuất khẩu gạo của Trung Quốc, dữ liệu để phân tích trong nghiên cứu này được quan sát cho 32 quốc gia trong thời gian 2001 – 2014. Các ước lượng REM, FEM với các kiểm định phù hợp để lựa chọn mô hình. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng biến khoảng cách không có tác động đến xuất khẩu gạo của Trung Quốc. Trong khi các yếu tố GDP, dân số, tỷ giá, giá sản xuất và xuất khẩu đều có tương quan rõ nét tới xuất gạo của Trung Quốc.
Trong các yếu tố này thì giá sản xuất và xuất khẩu có tác động rõ nét nhất. Nghiên cứu của Adiqa và cộng sự (2018) phân tích tiềm năng thương mại gạo và cotton của Pakistan trong giai đoạn 1984 – 2014. Từ kết quả của mô hình, tác giả kết luận rằng: Xuất khẩu gạo và cotton của Pakistan bị ảnh hưởng tích cực thông qua sản xuất, đường biên giới chung và GDP của các nước đối tác; khoảng cách và tổng sản phẩm quốc nội có tác động tiêu cực đến xuất khẩu. Nghiên cứu của Irshad và cộng sự (2018) ước lượng mức độ tác động của các yếu tố đến xuất khẩu gạo của Parkistan giai đoạn 2003 – 2016.
Kết quả mô hình cho thấy GDP, sự khác biệt về thu nhập, biên giới chung và thành viên của tổ chức WTO là những biến có tác động tích cực đến xuất khẩu gạo của Parkistan. Đồng thời cũng chỉ ra được mối quan hệ nghịch đảo với khoảng cách, tỷ giá hối đoái và các thỏa thuận thương mại. Nghiên cứu cũng chỉ ra 109 trên 144 quốc gia nghiên cứu có tiềm năng cho ngành xuất khẩu gạo Parkistan và quốc gia này cần tập trung xuất khẩu vào các quốc gia đó đồng thời củng cố năng lực cạnh tranh trong ngành lúa gạo của quốc gia này.