phần mở đầu, kết luận chung, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn gồm ba chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về xuất khẩu hàng hóa trong bối cảnh thực thi Hiệp định đối tác kinh tế Chƣơng 2: Thực trạng xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản trong bối cảnh thực thi Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) Chƣơng 3: Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu nông sản VIệt Nam sang thị trường Nhật Bản trong bối cảnh thực thi Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HÓA TRONG BỐI CẢNH THỰC THI HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ 1. Cơ sở lý thuyết về xuất khẩu hàng hóa 1. Khái niệm xuất khẩu Một trong những khái niệm quan trọng trong thương mại quốc tế chính là khái niệm về hoạt động xuất khẩu. Theo đó, hoạt động xuất khẩu hàng hóa được hiểu là một mặt hàng sản phẩm được một đất nước đưa sang đất nước khác để bán hoặc đối lấy một mặt hàng khác tương đương về giá trị hoặc sử dụng tiền tệ để làm cơ sở cho phương tiện thanh toán.
Tóm lại, việc đưa sản phẩm từ nước này sang nước khác thông qua cơ sở giá trị của hàng hóa hay nói cách khác là thực hiện giá trị sử dụng của mặt hàng đó. Xuất khẩu hàng hóa là hoạt động quan trọng và mật thiết hình thành nên sự chuyên môn hóa trong việc sản xuất của một quốc gia khi các nước đó sử dụng thế mạnh của mình để sản xuất những sản phẩm mang lợi thế so sánh, cạnh tranh nhằm gia tăng sản lượng lớn sản phẩm, điều này giúp các quốc gia không chỉ thỏa mãn được nhu cầu tiêu dùng nội địa của nước đó, mà còn dẫn đến sự dư thừa hàng hóa, tạo động lực xúc tiến quá trình xuất khẩu qua các quốc gia khác hoặc giúp trao đổi hàng hóa lấy các hàng hóa mà quốc gia đó không có lợi thế so sánh (được hiểu là nếu tự sản xuất sẽ phải sử dụng nhiều nguồn lực hơn) nhằm thỏa mãn các nhu cầu nội địa. Vì vậy, hoạt động xuất khẩu hàng hóa tất yếu dẫn đến quá trình phân công lao động theo chuyên môn hóa với chủ thể là các quốc gia. Theo Luật thương mại 2005, điều 28 khoản 1 đã đưa ra định nghĩa xuất khẩu hàng hóa chính là đưa một mặt hàng sản phẩm ra khỏi lãnh thổ của đất nước Việt Nam hoặc các khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Tóm lại, xuất khẩu nói một cách đơn giản nhất là một sản phẩm hoặc dịch vụ tới thị trường nước ngoài để đổi lấy ngoại tệ. Do đó nhờ có xuất khẩu, nước xuất khẩu sẽ thu được một nguồn ngoại tệ lớn, đây chính là một yếu tố tối quan trọng, liên quan trực tiếp đến việc giao thương quốc tế, góp sức lớn vào sự tăng trưởng kinh tế của một nước giúp tăng cường giao thương giữa các khu vực hoặc các quốc gia trên toàn cầu. 11 Tại sao các quốc gia phải tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế nói chung và việc thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nói riêng? Bởi lẽ hoạt động xuất khẩu mang ý nghĩa to lớn không chỉ đối với quốc gia mà còn đối với những doanh nghiệp hoạt động về lĩnh vực này. Đối với đất nước, hoạt động xuất khẩu là tiền đề vững chắc để thu về ngoại tệ, giúp đáp ứng được nguồn ngoại tệ trong nước, phục vụ cho các hoạt động tiêu dùng cũng như là đầu tư nước ngoài, nhập khẩu các sản phẩm cần thiết,.
mà phải sử dụng đến ngoại tệ. Ngoài ra, xuất khẩu diễn ra mạnh mẽ ở nhiều ngành nghề, nhiều mặt hàng giúp đẩy mạnh việc tăng trưởng lao động nhằm tạo ra nguồn hàng hóa dồi dào. Việc tăng trưởng này giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp ở mọi ngành nghề gắn liền với việc giải quyết việc làm tại nhiều địa phương. Dựa trên cơ sở những mặt hàng xuất khẩu rất đa dạng, không chỉ những mặt hàng chế biến hay công nghiệp, điện tử viễn thông mà có thể là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, nông lâm ngư nghiệp, từ đó làm giảm thực trạng thất nghiệp ở một số khu vực, đồng thời tận dụng được nguồn lực dồi dào từ các địa phương mọi ngành nghề mọi cấp độ.
Thêm nữa, xuất khẩu tăng trưởng sẽ giúp nâng cao vị thế quốc gia trên quốc tế. Hàng hóa xuất khẩu ra thế giới cơ bản là phải đạt một số các tiêu chuẩn, đặc biệt trong đó là các tiêu chuẩn tương đối khắt khe và chặt chẽ như quy tắc xuất xử hay hàm lượng chất độc tồn dư trong sản phẩm,.do vậy khi hàng hóa đạt được những tiêu chuẩn này và tồn tại trên thị trường thế giới sẽ giúp khẳng định vị thế quốc gia, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lại càng mạnh mẽ khi được nhiều quốc gia tin dùng sản phẩm của nước xuất khẩu, đây là cơ sở khẳng định về chất lượng sản phẩm cũng như cho thấy tiềm năng thị trường to lớn. Không chỉ vậy, việc mở rộng kinh doanh theo hướng xuất khẩu vô hình chung giúp doanh nghiệp trong nước phát huy các thế mạnh của sản phẩm để thúc đẩy sự cạnh tranh, buộc phải tham gia sản xuất với quy trình tân tiến hơn, tham gia sản xuất với tinh thần học hỏi, như vậy giúp nâng cao trình độ sản xuất trong nước. Thêm vào đó, khi tham gia sâu hơn vào quá trình thương mại quốc tế, đặc biệt là xuất khẩu sẽ giúp doanh nghiệp thu được giá trị sản phẩm cao hơn so với việc sản xuất hàng tiêu dùng trong nước.
Đây là điểm đặc biệt quan trọng khi bắt đầu triển khai các hoạt động xuất khẩu, ngoài việc mở rộng trị trường tại những nước khác 12 với quy mô lớn hơn thì giá trị đem lại cũng lớn hơn, đây chính là động lực giúp các doanh nghiệp nội địa định hướng tới hoạt động sản xuất. Theo đó, doanh nghiệp sẽ có động lực phát triển các hàng hóa đa dạng hơn, chú trọng vào chất lượng và các tiêu chuẩn, nâng cao tay nghề của người sản xuất cũng như năng lực quản lý của ban lãnh đạo doanh nghiệp, không chỉ quản lý về sản phẩm thông thường mà phải tham gia vào quản lý chuỗi cung ứng trong nước cũng như quốc tế nhằm nắm bắt được thời cơ cũng như cơ hội nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ đó ta thấy được rằng, việc xuất khẩu góp phần quan trọng trong việc nâng cao vị thế của một quốc gia không những xúc tiến phát triển kinh tế trong nước mà còn thúc đẩy các khía cạnh khác như lao động, văn hóa, chính trị theo hướng tích cực, theo đuổi mục tiêu toàn cầu hóa và phát triển bền vững không chỉ đối với quốc gia mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao giá trị của các doanh nghiệp trong nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng thực tế, từ nội lực bên trong và phát triển đất nước một cách bên vững. Các hình thức xuất khẩu Xuất khẩu hàng hoá được xem là một khía cạnh quan trọng của nền kinh tế thế giới.
Hoạt động này thể hiện sự phong phú trong cách thức chúng ta giao tiếp và trao đổi lưu thông trên toàn cầu. Dưới đây là một số hình thức chính được sử dụng khi tham gia mở rộng kinh doanh theo hướng xuất khẩu: * Xuất khẩu trực tiếp Đây được xem là hình thức cơ bản nhất của xuất khẩu, đó là việc những cơ sở doanh nghiệp sản xuất hàng hoá tạo ra sản phẩm và sau đó tiến hành bán chúng trực tiếp đến thị trường nước ngoài. Điều này thường liên quan đến việc thiết lập quan hệ thương mại với những đối tác nước ngoài và bên xuất khấu sẽ quản lý, thực hiện tất cả các khâu trong quá trình xuất khẩu. * Xuất khẩu qua trung gian: Với hình thức này, một bên thứ ba, thường là một công ty xuất khẩu hoặc đại lý xuất khẩu, đóng vai trò trung gian giữa doanh nghiệp sản xuất và thị trường nước ngoài.
Điều này có thể giúp giảm bớt các rủi ro và thủ tục hành chính cho doanh nghiệp sản xuất. 13 * Xuất khẩu tại chỗ: Là quá trình sản xuất hoặc tạo ra các sản phẩm hoặc dịch vụ để tiêu thụ hoặc sử dụng tại cùng một địa điểm nơi sản xuất diễn ra để thu ngoại tệ. Nói theo cách khác, đây là hình thức bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho người nước ngoài ngay tại quốc gia mình, và thanh toán được tiến hành bằng ngoại tệ. Các sản phẩm xuất khẩu tại chỗ hoặc sẽ được tiêu thụ tại chỗ trong nước hoặc được mua để mang sang sử dụng ở ngoài nước.
* Hình thức tái xuất khẩu: Là hình thức sản phẩm được nhập khẩu vào một quốc gia sau đó được bán và xuất khẩu qua một đất nước khác. Trong quá trình này, sản phẩm không trải qua bất kỳ quá trình chế biến hay sửa đổi đáng kể nào tại quốc gia nhập khẩu, thay vào đó, nó thường được mua và bán lại với mục đích chuyển giao cho thị trường quốc tế khác. Có hai hình thức chính trong hoạt động thái xuất khẩu có thể kể đến là tạm nhập -tái xuất và chuyển khẩu, cụ thể về các hình thức này được trình bày như sau: Hình thức tạm nhập – tái xuất là quá trình thương mại đặc biệt, cụ thể hàng hoá sẽ được mua từ một quốc gia với mục đích bán cho một quốc gia khác thông qua các hợp đồng thương mại quốc tế. Quá trình này bao gồm việc thực hiện thủ tục nhập khẩu để đưa sản phẩm mặt hàng vào quốc gia nhập khẩu, sau đó thực hiện thủ tục xuất khẩu mà không yêu cầu bất kỳ sự can thiệp hoặc chế biến nào.
Hàng hoá chuyển khẩu được phân vào hai loại. Một là hàng hóa có thể được nhập cảnh trước, sau đó yêu cầu giấy tờ từ cơ quan hải quan để chuyển giao đến một cửa khẩu hải quan khác để tiến hành thủ tục nhập khẩu. Hai là hàng hoá tại nơi xuất phát lúc ban đầu đã được xử lý về thủ tục hải quan xuất khẩu và sau đó được vận chuyển đến điểm đến, trong đó hải quan ở điểm đó chịu trách nhiệm giám sát và quản lý hàng hoá trước khi được xuất cảnh. * Gia công xuất khẩu: Là phương thức người đặt hàng gia công ở nước ngoài cung cấp tới người nhận gia công các công cụ sản xuất như máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc thậm chí là sản phẩm mẫu và hướng dẫn cụ thể.