Chương I đến XXIV (trừ cá và sản phẩm cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong Hệ thống thuế mã HS (Hệ thống hài hòa hóa mã số thuế) và không bao gồm các sản phẩm thuộc lĩnh vực thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp (Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi…; Các sản phẩm phái sinh như bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt…; Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô… Tất cả các sản phẩm còn lại trong Hệ thống thuế mã HS được xem là sản phẩm phi nông nghiệp (còn được gọi là sản phẩm công nghiệp) (Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Ở Việt Nam, theo Nghị định 57/2018/NĐ-CP ngày 17-4-2018 của Chính Phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông 6 thôn thì khái niệm nông sản được quy định cụ thể tại Khoản 7 Điều 3 như sau “Nông sản là sản phẩm của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp” (Chính phủ, Nghị định 57/2018/NĐ-CP ngày 17-4-2018). Như vậy khái niệm hàng nông sản có nhiều cách hiểu khác nhau giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế tùy theo cách tiếp cận ngành nông nghiệp.
Nhìn một cách khái quát nhất, chúng ta có thể hiểu: nông sản là những sản phẩm hoặc bán thành phẩm có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp. Nông sản bao gồm các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, động vật sống, hồ tiêu, cà phê, sữa bò, rau quả tươi…; các sản phẩm phái sinh như bơ, dầu ăn… và các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như các sản phẩm từ sữa, bông xơ, da động vật thô. Đặc điểm của hàng nông sản Nông sản bao gồm những sản phẩm thiết yếu phục vụ đời sống và sản xuất của người dân ở mỗi quốc gia, đây là sản phẩm của ngành nông nghiệp mà bản chất là kết quả của quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi. Do vậy, nông sản mang một số đặc điểm của hoạt động sản xuất nông nghiệp: - Tính thời vụ: Quá trình sản xuất, thu hoạch và tiêu thụ nông sản luôn mang tính thời vụ bởi các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển theo quy luật sinh vật nhất định.
Mặt khác, do sự biến thiên về điều kiện tự nhiên khí hậu làm cho mỗi loại cây trồng có sự thích ứng riêng, tạo nên những mùa vụ khác nhau trong sản xuất. Vào khoảng thời gian chính vụ, nông sản thường dồi dào, phong phú về chủng loại, chất lượng khá đồng đều và giá rẻ và ngược lại. - Nông sản phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên: Nông sản chịu tác động lớn từ điều kiện tự nhiên, đặc biệt là các điều kiện về đất đai, khí hậu và thời tiết. Đa phần các nông sản đều rất nhạy cảm với các nhân tố ngoại cảnh, do vậy, mọi sự thay đổi về điều kiện tự nhiên đều tác động trực tiếp tới sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
- Chất lượng nông sản ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người tiêu dùng: Chất lượng nông sản luôn là tiêu chí đầu tiên được người tiêu dùng quan tâm khi quyết định mua hàng. Tại các quốc gia phát triển, đối với hoạt động nhập khẩu nông sản, ngày càng có nhiều yêu cầu khắt khe đặt ra về chất lượng, vệ sinh ATTP, kiểm 7 dịch, xuất xứ,… của loại hàng hóa này, vì khi đời sống người dân được nâng lên thì chất lượng nông sản cũng cần được cải thiện tương ứng. - Nông sản có tính đa dạng: Nông sản có đặc điểm đa dạng cả về chủng loại và chất lượng, bởi nông sản được sản xuất từ các địa phương khác nhau với các nhân tố về địa lý, tự nhiên khác nhau, mỗi vùng, mỗi hộ dân, mỗi trang trại có phương thức sản xuất khác nhau với các giống nông sản khác nhau cho nên chủng loại cũng khác nhau. Khái niệm về nông sản hàng hóa chủ lực 1.
Khái niệm Quá trình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới luôn gắn liền với sự trỗi dậy của những ngành hàng hoặc sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Những ngành hoặc sản phẩm này đã trở thành yếu tố dẫn đạo tăng tưởng và phát triển kinh tế của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ. Điển hình nhất là Nhật bản, 20 năm sau thế chiến thứ 2 (1951 – 1973) đã trở thành nền kinh tế lớn của thế giới với GDP tăng trưởng gấp 20 lần. Các sản phẩm được xem là thế mạnh cạnh tranh của Nhật giai đoạn này là tàu biển, xe máy, máy khâu, máy ảnh, ti vi, thép, ô tô, sản phẩm hóa chất, hàng dệt,.
Kế đến là Trung Quốc, với việc chuyển đổi từ nền công nghiệp không dựa vào lợi thế sang nền công nghiệp dựa trên lợi thế nguồn nhân công dồi dào với các sản phẩm cấp thấp, giá rẻ. đã đưa nền kinh tế Trung quốc tăng trưởng một cách thần kỳ, đạt tốc độ trung bình hàng năm 7,1% (giai đoạn 2013-2017). Kết quả là từ một nước kém phát triển, Trung quốc đã vươn lên thứ 2 nền kinh tế hàng đầu thế giới. Tương tự, thông qua hai cuộc “Cách mạng xanh” với các sản phẩm nông nghiệp (lương thực, thực phẩm), công nghiệp phục vụ nông nghiệp,.
Ấn Độ đã trở thành hiện tượng đặc biệt trong phát triển kinh tế nhờ vào xác định và phát triển các ngành sản phẩm chủ lực phù hợp với lợi thế của mình Ở Việt Nam, sản phẩm chủ lực là khái niệm bắt đầu xuất hiện trong một số văn bản quản lý Nhà nước vào thập niên đầu tiên thế kỷ XXI. Lúc đầu, đây chỉ là thuật ngữ dùng để chỉ những sản phẩm có khả năng xuất khẩu mạnh, chiếm tỷ trọng kim ngạch cao hoặc có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế của đất nước. Hiện nay, khái niệm này được sử dụng khá phổ biến và đã trở thành thuật ngữ kinh tế 8 quen thuộc không những với các nhà quản lý mà còn với cả các doanh nghiệp và nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, cách hiểu về sản phẩm chủ lực của mỗi người, mỗi địa phương lại có những điểm khác nhau khá rõ rệt.
Vậy sản phẩm chủ lực là gì? Có thể nói, sản phẩm chủ lực là khái niệm dùng để chỉ sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ được thương mại hóa, tức là sản phẩm hữu hình hoặc vô hình được sản xuất và cung ứng nhằm mục đích thương mại. Khái niệm sản phẩm ở đây còn được mở rộng đến ngành hàng hay một nhóm các sản phẩm có cùng tính năng, mục đích sử dụng hay qui trình công nghệ sản xuất. Ví dụ, ngành hàng thực phẩm chế biến có thịt đóng hộp, cá đóng hộp, thịt đông lạnh, cá đông lạnh., ngành hóa mỹ phẩm có bột giặt, nước xả, chất tẩy rửa gia dụng, mỹ phẩm. Từ những kết quả phân tích đã trình bày ở phần trên, có thể nhận diện sản phẩm chủ lực thông qua định nghĩa như sau: “Sản phẩm chủ lực là sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ chủ yếu, có khả năng sản xuất và cung ứng với khối lượng lớn và năng lực cạnh tranh cao; là trung tâm lan tỏa, lôi kéo các ngành nghề khác cùng phát triển; đồng thời nó còn có thể là sản phẩm thể hiện tính đặc thù riêng, mang ý nghĩa văn hóa của một quốc gia, địa phương hay vùng lãnh thổ”.
Từ khái niệm về sản phẩm chủ lực, chúng ta cũng có thể hiểu được thế nào là nông sản hàng hóa chủ lực: “là sản phẩm chủ lực nhưng trong lĩnh vực nông nghiệp, có khả năng sản xuất và cung ứng với khối lượng lớn và năng lực cạnh tranh cao; là trung tâm lan tỏa, lôi kéo các ngành nghề khác cùng phát triển; đồng thời nó còn có thể là sản phẩm thể hiện tính đặc thù riêng, mang ý nghĩa văn hóa của một quốc gia, địa phương hay vùng lãnh thổ”. Đặc điểm của hàng hóa nông sản chủ lực Hàng hóa nông sản chủ lực trước hết là sản phẩm nông nghiệp nên nó có đầy đủ các đặc điểm của hàng hóa nông sản như: tính thời vụ; phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên; Chất lượng nông sản ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người tiêu dùng; nông sản có tính đa dạng. Ngoài ra hàng hóa nông sản chủ lực còn có những đặc điểm của những sản phẩm chủ lực: 9 - Sản phẩm có qui mô khối lượng lớn và tính đồng nhất cao: Một sản phẩm muốn trở thành chủ lực trước tiên phải là sản phẩm được sản xuất ra để trao đổi mua bán với khối lượng lớn và đạt được độ đồng nhất cao. Nói cách khác, hàng hóa chủ lực phải được sản xuất theo qui mô tập trung, công nghiệp với công nghệ tiên tiến nên có thể đảm bảo được khối lượng cung ứng lớn cho thị trường đồng thời chất lượng, mẫu mã kiểu dáng và các tính năng khác phải giống nhau giữa các cá thể.
- Sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao: Sản phẩm chủ lực phải là những sản phẩm đảm bảo các yêu cầu về mặt chất lượng, thiết kế kỹ thuật, mẫu mã, kiểu dáng…theo tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế; có khả năng tiêu thụ tốt không những trên thị trường trong nước mà còn xuất khẩu. - Sản phẩm có sức lan tỏa mạnh: Có thể nói, sản phẩm chủ lực là những sản phẩm có sự liên hệ mật thiết với nhiều ngành hàng hay sản phẩm khác, ảnh hưởng trực tiếp lên các sản phẩm, ngành hàng khác và lôi kéo chúng cùng phát triển theo. Mặt khác, quá trình phát triển của sản phẩm chủ lực cũng thường xuyên chịu sự tác động bởi các ngành hàng hoặc sản phẩm khác. Sự liên hệ này được thể hiện thông qua các mối liên hệ chuỗi giá trị (sự kết nối liên tiếp về mặt công nghệ trong quá trình sản xuất ra sản phẩm) hoặc các mối liên hệ bổ trợ (mối liên hệ tương hỗ tạo ra điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm).
Với tính chất lan tỏa như vậy, thực tế cho thấy khi sản phẩm chủ lực phát triển sẽ tạo ra nhu cầu hỗ trợ, nhu cầu liên kết… từ đó kích thích, lôi kéo các ngành nghề khác cùng phát triển theo. - Sản phẩm mang tính đặc thù của tỉnh, quốc gia, vùng lãnh thổ: Một sản phẩm chủ lực còn là sản phẩm thể hiện lợi thế đặc trưng của tỉnh, quốc gia, vùng lãnh thổ mà không nơi nào khác có thể sánh kịp.