mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu làm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động xúc tiến thƣơng mại Chƣơng 2: Phân tích thực trạng hoạt động xúc tiến thƣơng mại cho các sản phẩm nông sản tỉnh Tuyên Quang. Chƣơng 3: Giải pháp xúc tiến thƣơng mại các sản phẩm nông nghiệp phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế tại tỉnh Tuyên Quang. 4 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THƢƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về hoạt động xúc tiến thƣơng mại 1.
Khái niệm cơ bản về xúc tiến thương mại Xúc tiến thƣơng mại là thuật ngữ ra đời từ lâu cùng với sự hình thành và phát triển của khái niệm marketing. Tuy nhiên, trong nh ững thập niên gần đây, các quốc gia, doanh nghiệp mới có sự quan tâm và chú trọng đến hoạt động này. Qua thời gian, XTTM có rất nhiều các định nghĩa khác nhau nhƣ sau: Theo cách hiểu truyền thống: “Xúc tiến thƣơng mại là hoạt động trao đổi và hỗ trợ trao đổi thông tin giữa bên bán và bên mua, ho ặc qua khâu trung gian nhằm tác động tới thái độ và hành vi mua bán, qua đó nhắm thúc đẩy việc mua bán và trao đổi hàng hóa và dịch vụ” [6, 5]. Theo Giáo trình Quản trị doanh nghiệp thƣơng mại: “Xúc tiến là một tham số của marketing hỗn hợp đƣợc dịch từ Tiếng Anh “Promotion” với nghĩa chung là thúc đẩy một lĩnh vực nào đó nhƣ xúc tiến đầu tƣ, xúc tiến việc làm, xúc tiến bán hàng, xúc tiến xuất khẩu” [5, 43].
Theo quan niệm của Trung tâm Thƣơng mại Quốc tế (ITC): “Xúc tiến thƣơng mại là tất cả các biện pháp có thể tác động hỗ trợ, khuyến khích phát triển thƣơng mại” [6, 6]. “Xúc tiến thƣơng mại (tiếng Anh: trade promotion) là ho ạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo, trƣng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thƣơng mại” theo bách khoa toàn thƣ mở [19. Luật Thƣơng mại Việt Nam năm 2005 định nghĩa nhƣ sau : "Xúc tiến thƣơng mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thƣơng mại, trƣng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thƣơng mại" (Khoản 10 Điều 3) [7, 2]. Từ các định nghĩa trên chúng ta đi đến kết luận nhƣ sau: XTTM là một hoạt động vô cùng quan tr ọng đối với doanh nghiệp xuất khẩu, là một bộ phận không thể thiếu trong Marketing h ỗn hợp, là cầu nối quan trọng giữa sản xuất và tiêu dùng sản phẩm, là công cụ hữu hiệu để nhà nƣớc thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp trong xuất khẩu.
Vai trò của Xúc tiến thương mại 1. Vai trò của Xúc tiến thương mại đối với quốc gia Xúc tiến thƣơng mại có vai trò quan trọng đối với quá trình tăng trƣởng và phát triển kinh tế. XTTM là một công cụ hữu hiệu để giải quyết đầu ra cho nhiều ngành sản xuất, tạo điều kiện và thúc đẩy phát triể thị trƣờng trong nƣớc, đồng thời góp phần quan trọng trong việc đẩy mạnh hoạt độ g xúc tiến xuất khẩu. XTTM gắn kết nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới.
Thị trƣờng trong nƣớc có mối quan hệ chặt chẽ với thị trƣờng nƣớc ngoài thông qua các hoạt động ngoại thƣơng. Xúc tiến thƣơng mại sẽ góp phần mở rộng thị trƣờng xuất nhập khẩu, thiết lập và tăng cƣờng liên kết, hợp tác quốc tế trong khu vực và thế giới. Thông qua các hoạt động XTTM đã nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của Việt Nam trên trƣờng quốc tế. Vai trò của Xúc tiến thương mại đối với địa phương XTTM sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, kích thích tăng trƣởng kinh tế, gắn kết nền kinh tế của tỉnh với nền kinh tế thế giới bằng nhiều hình thức hoạt động giới thiệu, quảng bá về văn hóa, vùng đất, con ngƣời, tiềm năng thế mạnh của địa phƣơng; sản phẩm, thƣơng hiệu hàng hóa của doanh nghiệp; mở rộng, khai thác, liên kết các thị trƣờng tiềm năng tiêu thụ sản phẩm hàng hóa; thu hút đầu tƣ; góp phần phát triển sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm, đảm bảo an ninh xã hội, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).
Vai trò của Xúc tiến thương mại đối với doanh nghiệp Xúc tiến thƣơng mại đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế cho các doanh nghiệp. Thứ nhất, hỗ trợ, cung cấp thông tin thƣơng mại về cơ chế chính sách, khung pháp lý, thông tin thị trƣờng, cơ hội giao thƣơng… cho doanh nghiệp một cách chính xác, kịp thời, cần thiết và có hiệu quả. Thứ hai, là cầu nối giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với khách hàng, giúp doanh nghiệp có cơ hội phát triển các mối quan hệ với các bạn hàng trong và ngoài nƣớc. XTTM là công cụ hữu hiệu trong việc duy trì và chiếm lĩnh thị trƣờng.
Xúc tiến thƣơng mại làm cho hoạt động bán hàng trở nên dễ dàng hơn, thúc đẩy việc đƣa hàng hóa vào kênh phân phối hợp lý. Xúc tiến thƣơng mại hỗ trợ và tạo cơ hội để doanh nghiệp kết nối giao thƣơng, mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa dịch vụ. Thông qua các hoạt động XTTM, doanh nghiệp có cơ hội thể hiện đƣợc năng lực, uy tín và hình ảnh của đơn vị từ đó tạo niềm tin của khách hàng. Thứ ba, tạo điều kiện để củng cố, khẳng định vị thế và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thông qua hoạt động xúc tiến thƣơng mại, các 6 doanh nghiệp sẽ có đƣợc những thông tin về thị trƣờng, khách hàng, đối thủ cạnh tranh…từ đó đƣa ra những quyết định hợp lý về chiến lƣợc kinh doanh có hiệu quả nhất, giúp doanh nghiệp phát huy thế mạnh hoặc rút ngắn khoảng cách với các doanh nghiệp dẫn đầu thị trƣờng. Hoạt động xúc tiến thƣơng mại có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ xây dựng và phát triển thƣơng hiệu của doanh nghiệp. Một khi doanh nghiệp đã đƣợc khẳng định và có uy tín trên thị trƣờng sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận tốt với khách hàng, mở rộng đƣợc thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao vị thế của doanh nghiệp… 1. Vai trò của xúc tiến thương mại đối với người dân Xúc tiến thƣơng mại có vai trò to lớn trong việc tác động và góp phần làm thay đổi cơ cấu tiêu dùng.
Nhu cầu của ngƣời tiêu dùng không cố định, họ luôn có những nhu cầu ở dạng tiềm ẩn, vai trò của xúc tiến thƣơng mại là phải đánh thức những nhu cầu đó và kích thích ngƣời tiêu dùng sẵn sàng chi trả cho những sản phẩm khác. Xúc tiến thƣơng mại có hiệu quả sẽ tạo đƣợc lòng tin, sự yên tâm về chất lƣợng, giảm thiểu rủi ro trong tiêu dùng, nâng cao đƣợc mức hƣởng thụ của ngƣời tiêu dùng góp phần gắn sản xuất với tiêu dùng. Chức năng của xúc tiến thương mại 1. Tổ chức và phối hợp tổ chức thực hiện quá trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ Xúc tiến thƣơng mại thúc đẩy việc trao đổi, lƣu thông thông hàng hóa trên thị trƣờng một cách hợp lý, nhanh chóng, đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của khách hàng cả về giá trị sử dụng và giá cả hợp lý; Đẩy mạnh quá trình lƣu thông hàng hóa thông qua việc phát triển các hệ thống kênh phân phối, mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, thúc đẩy quá trình giao dịch thƣơng mại trong và ngoài nƣớc.
Đáp ứng tốt mọi nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng Với tƣ cách là chiếc cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, XTTM tác động đến tiêu dùng thông qua việc xúc tiến quảng bá, giới thiệu sản phẩm và bán các hàng hóa, dịch vụ trên thị trƣờng; kết nối cung cầu hàng hóa; khảo sát và mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm; tìm kiếm ác nhà đầu tƣ, đối tác và khách hàng tiềm năng; đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của ngƣời dân. Gắn sản xuất với thị trường và gắn nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới Xúc tiến thƣơng mại thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, gắn sản xuất với tiêu dùng. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, thị trƣờng trong nƣớc có mối liên hệ chặt chẽ với thị trƣờng nƣớc ngoài thông qua 7 hoạt động xuất nhập khẩu. Xúc tiến thƣơng mại gián tiếp hay trực tiếp thúc đẩy hàng hóa dịch vụ trong nƣớc ra thị trƣờng nƣớc ngoài và ngƣợc lại, góp phần gắn nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới.
Các hình thức hoạt động xúc tiến thương mại 1. Hội chợ triển lãm thương mại Theo Luật Thƣơng mại Việt Nam năm 2005: “Hội chợ triển lãm thƣơng mại là hoạt động xúc tiến thƣơng mại đƣợc thực hiện tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thƣơng nhân trƣng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ” [7, 32]. Hội chợ triển lãm (HCTL) tổ chức tại Việt Nam phải đƣợc đăng ký và phải đƣợc xác nhận bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại tỉnh, thành phố nơi tổ chức HCTL thƣơng mại. Hàng hóa, dịch vụ trƣng bày, giới thiệu tại HCTL tại Việt Nam phải là hàng hóa đƣợc phép lƣu thông trên thị trƣờng theo quy định của pháp luật.
Hàng hóa, dịch vụ không đƣợc phép tham gia HCTL là hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa, dịch vụ thuộc diện cấm kinh doanh, cấm nhập khẩu, hạn chế kinh doanh, chƣa đƣợc phép lƣu thông. Hàng hóa thuộc diện nhập khẩu phải có giấy phép của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Hàng hóa đƣợc bán, tặng, dịch vụ đƣợc cung ứng tại HCTL tại Việt Nam phải chịu thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ Theo Luật Thƣơng mại Việt Nam năm 2005: “Trƣng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ là hoạt động xúc tiến thƣơng mại của thƣơng nhân dùng hàng hóa, dịch vụ và tài liệu về hàng hóa, dịch vụ để giới thiệu với khách hàng về hàng hóa, dịch vụ đó” [7, 30].