Chương I: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu Chương này giới thiệu tổng quan lý do chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Nêu phạm vi và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và kết cấu nội dung của luận văn. Chương II: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này trình bày tổng quan các lý thuyết liên quan, các kết quả nghiên cứu cùng mô hình nghiên cứu của các tác giả đi trước, từ đó lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp cho đề tài. Chương III: Tổng quan nông nghiệp Việt Nam và các nước thuộc TPP Chương này trình bày tổng quan về kinh tế nông nghiệp Việt Nam và các nước thuộc TPP dựa trên các chỉ số vĩ mô.
Chương IV: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu Chương này trình bày các bước thiết kế và xây dựng mô hình nghiên cứu. Chương V: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày các kết quả chạy mô hình hồi quy và kiểm định, nhận định, phân tích giữa các biến độc lập ảnh hưởng thế nào tới biến phụ thuộc là kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam qua các nước thuộc TPP thời gian vừa qua. Chương VI: Kết luận và kiến nghị về chính sách Từ kết quả thu được của mô hình, đề tài rút ra những gợi ý chính sách cần ưu tiên trong thời gian tới nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng nông sản của Việt Nam qua thị trường các nước thuộc TPP nói riêng, quốc tế nói chung. Chương này nêu ra những hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Trang 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 này trình bày tổng quan về thương mại quốc tế và các lý thuyết kinh tế như: lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (1776), lợi thế so sánh của David Ricardo (1817) nhấn mạnh tới sự khác biệt về năng suất lao động giữa các nước, lý thuyết Heckscher-Ohlin (1919-1933) đưa ra cách giải thích khác về lợi thế so sánh xuất phát từ những sự khác biệt trong độ sẵn có các yếu tố sản xuất, lý thuyết lợi thế cạnh tranhquốc gia của Michael Porter (1990) trình bày lý do tại sao một nước lại đạt được thành công đối với một mặt hàng, một ngành cụ thể trên thị trường thế giới, lý thuyết thương mại mới của Krugman (1979) giải thích lý do có sự trao đổi cùng 1 loại hàng hóa giữa các quốc gia. Chương này cũng trình bày lý thuyết về mô hình hấp dẫn trong thương mại quốc tế được phát triển bởi Tinbergen (1962), Poyhonen (1963) và Linnemann (1966) và đưa ra các nghiên cứu trước có sử dụng mô hình này trong phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động thương mại giữa các quốc gia có giao thương. Thương mại quốc tế và các lý thuyết về thương mại quốc tế 2.
Thương mại quốc tế Thương mại quốc tế xuất hiện từ khi con người thực hiện hành vi trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia, các vùng miền trên thế giới. Nó đã diễn ra từ rất lâu nhưng mãi cho tới thời gian gần đây (từ thế kỷ 15) mới xuất hiện những nỗ lực giải thích và phân tích những ưu nhược điểm cũng như nguồn gốc của họat động kinh doanh buôn bán trên thế giới dựa trên những lý thuyết, mô hình. Một trong những lý thuyết nền tảng giải thích nguyên nhân có sự giao dịch thương mại giữa các quốc gia trên thế giới là lý thuyết của Smith (1766) về lợi thế tuyệt đối. Từ quan điểm này, trong thế kỷ 19, nhà kinh tế học người Anh David Ricardo đã xây dựng và phát triển lên lý thuyết về lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế, ở đó lao động là yếu tố sản xuất duy nhất, các nước chỉ khác nhau về năng suất lao động trong các ngành khác nhau, tuy nhiên mô hình này chưa có tính đến phân phối thu nhập trong hoạt động ngoại thương.
Mô hình các yếu tố chuyên biệt và lý thuyết Heskcher-Ohlin của 2 nhà kinh tế học Thụy Điển vào năm 1919 và 1933 cũng đưa ra quan điểm: các Trang 6 nước có xu hướng xuất khẩu những hàng hóa thâm dụng yếu tố sản xuất dồi dào của mình , bên cạnh đó các mô hình này cho thấy các hệ quả ngắn hạn và dài hạn của hoạt động ngoại thương đối với phân phối thu nhập. Năm 1979, bằng một bài báo dài 10 trang, P. Krugman đã đánh dấu sự ra đời của lý thuyết thương mại mới trên cơ sở lý luận về tính kinh tế của quy mô, sự đa dạng về sự sở thích của người tiêu dùng và cạnh tranh độc quyền. Qua đó ông giải thích những thực tế mà các mô hình tân cổ điển trước đây không giải thích được bằng một mô hình trao đổi thương mại mới, ở đó trao đổi thương mại giữa 2 hoặc nhiều nước xảy ra trong cùng một lĩnh vực, xuất nhập khẩu các sản phẩm trong cùng một lĩnh vực.
Năm 1990 với mô hình kim cương của lợi thế quốc gia, Michael Porter đã đưa ra lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia, qua đó giải thích vì sao một nước lại đạt được những thành công trong một ngành nhất định, theo đó mỗi quốc gia nên xuất khẩu những sản phẩm của những ngành mà các thành phần trong mô hình kim cương này đều thuận lợi, ngược lại nên nhập khẩu. Ngày nay, mô hình hấp dẫn trong thương mại cùng những phiên bản cải tiến từ mô hình ban đầu đang được ứng dụng rộng rãi trong việc mô tả dòng thương mại giữa 2 nước hoặc 2 lãnh thổ có giao thương buôn bán bởi nó xử lý được những thiếu sót của các lý thuyết, mô hình cũ trước đó. Dưới đây sẽ đưa ra chi tiết hơn về những mô hình lý thuyết trên có liên quan tới đề tài, đặc biệt là mô hình hấp dẫn trong thương mại sẽ được sử dụng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu nông sản của Việt Nam qua thị trường các nước thuộc hiệp định xuyên Thái Bình Dương TPP. Lý thuyết Lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (1776) Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith đã bổ sung hoàn chỉnh cho trường phái trọng thương được phổ biến ở châu Âu từ thế kỷ 16 đến 18.
Quan điểm của Adam Smith (1776) về lợi thế tuyệt đối: - Bàn tay vô hình (the invisible hand) dẫn dắt mỗi cá nhân hướng đến lợi ích chung, chính phủ không cần can thiệp vào kinh tế, để thị trường tự quyết định. Và Trang 7 do thị trường cạnh tranh hoàn hảo nên người tiêu dùng và nền kinh tế có lợi khi để các doanh nghiệp tự do kinh doanh. - Phân công lao động giữa các nước sẽ tạo ra nhiều lợi nhuận hơn. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith cho thấy: Khi một quốc gia sản xuất có hiệu quả 1 loại hàng hóa so với quốc gia khác nhưng lại kém hiệu quả đối với sản xuất hàng hóa thứ 2, quốc gia này có thể tập trung chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa có lợi thế tuyệt đối là hàng hóa thứ nhất để xuất khẩu qua nước khác, nhập khẩu hàng hóa thứ 2.
Thông qua quá trình này thì các nguồn lực đều sử dụng có hiệu quả, lượng hàng hóa sản xuất ra đều tăng ở cả 2 nước. Nói cách khác, mỗi nước tập trung vào sản xuất sản phẩm có lợi thế tuyệt đối rồi trao đổi với nhau sẽ mang lại lợi ích cho cả hai. Mậu dịch tự do sẽ làm cho thế giới sử dụng tài nguyên có hiệu quả hơn. Tính ưu việt của chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng có lợi thế tuyệt đối.
Tuy nhiên, lý thuyết này của ông không giải thích được rằng, có những quốc gia không có lợi thế tuyệt đối gì hoặc có những quốc gia có quá nhiều lợi thế tuyệt đối, vậy họ sẽ làm gì hay lại bế quan tỏa cảng, đóng cửa để tự cung tự cấp? Hạn chế này của AdamSmith được David Ricardo khắc phục bằng Lý thuyết lợi thế so sánh. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo (1817) Hoạt động thương mại giữa hai nước có thể có lợi cho cả hai nước nếu mỗi nước xuất khẩu hàng hóa mà họ có lợi thế so sánh. “Trade between two countries can benefit both countries if each country exports the goods in which it has a comparative advantage” (Krugman và ctg., 2011) Năm1817, Ricardo đã cho ra đời tác phẩmNguyên lý của Kinh tế chính trị và thuế khoá, trong đó ông đãđề cập tới lợi thế so sánh (Comparative advantage). Khái niệm này chỉ khả năng sản xuất của một sản phẩm với chi phí thấp hơn so với sản xuất các sản phẩm khác.
(David Ricardo, 1817) Theo thuyết lợi thế so sánh, thương mại quốc tế xảy ra khi có sự khác biệt quốc tế về năng suất lao động. Kế thừa và phát triển lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, nhà kinh tế học người Anh David Ricardo đã xây dựng lên mô hình với lao Trang 8 động là yếu tố sản xuất duy nhất, các nước chỉ khác nhau về năng suất lao động giữa các ngành khác nhau. Trong mô hình Ricardo, các nước sẽ xuất khẩu hàng hóa mà người lao động trong nướcsản xuất tương đối hiệu quả và nhập khẩu hàng hóa mà họ sản xuất tương đối kém hiệuquả. Nói cách khác, mô thức sản xuất của một nước được xác định bởi lợi thế so sánh.
Ricardo đã nhấn mạnh: Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác. Bằng việc chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, tổng sản lượng về sản phẩm trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại. Như vậy lợi thế so sánh là cơ sở để các nước buôn bán với nhau và là cơ sở để thực hiện phân công lao động quốc tế Dự đoán cơ bản của mô hình – rằng các nước sẽ có xu hướng xuất khẩu hàng hóa họ có năng suất tương đối cao – đã được xác nhận qua một số nghiên cứu cũng như thực tế chứng minh.