CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Việt Nam là một trong những nước ở khu vực Đông Nam Á có điều kiện tự nhiên thích hợp để trồng lúa. Do đó đa số nông dân Việt Nam tham gia sản xuất nông nghiệp với cây trồng chính là cây lúa. Sản lượng lúa toàn quốc tăng dần hàng năm.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ước tính sản lượng lúa cả năm 2015 ước đạt 45,1 triệu tấn, tăng 0,3% so với năm 2014. Tuy nhiên, dù sản lượng cao nhưng thu nhập của nông dân trồng lúa còn rất hạn chế. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2012), thu nhập bình quân nhân khẩu một tháng của cư dân nông thôn năm 2012 chỉ bằng 78,9% bình quân chung cả nước và bằng 52,8% thu nhập của cư dân đô thị. Thành phố Rạch Giá là trung tâm kinh tế - xã hội của tỉnh Kiên Giang, gồm 12 phường xã với tổng diện tích tự nhiên là 10.
Trong đó, diện tích đất trồng lúa là 5.895,9 ha tập trung chủ yếu ở 02 phường xã vùng ven là Vĩnh Thông và Phi Thông. Sản lượng lúa bình quân hàng năm khoảng 65. Trong những năm qua, nông dân Rạch Giá đã tăng cường ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa tuy nhiên thu nhập mang lại tăng không nhiều. Thu nhập bình quân nhân khẩu một năm ở xã Phi Thông (có diện tích khoảng ½ thành phố Rạch Giá) khoảng 29 triệu đồng/người/năm (2015) xấp xỉ 50% so với thu nhập bình quân nhân khẩu một năm của thành phố Rạch Giá.
Có nhiều nguyên nhân làm cho nông dân có thu nhập thấp nhưng một trong những nguyên nhân chính đó là giá cả lúa không ổn định, thường xuyên xảy ra tình trạng được mùa mất giá. Đây là hậu quả của sự thiếu liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ. Chính cung cầu không gặp nhau đã gây nên chuyện được mùa mất giá trong nhiều năm qua. Nhằm góp phần giải quyết nguyên nhân trên, Tập đoàn Lộc Trời đã chủ động ký hợp đồng liên kết bao tiêu sản phẩm với một số nông dân của Rạch Giá.
Những hợp đồng này sẽ mang lại cho Tập đoàn những sản phẩm an toàn, có chất lượng đồng thời mang lại cho bà con nông dân sự ổn định giá lúa cũng như tiếp cận những công nghệ mới. Nhìn chung bước đầu cơ bản mang lại hiệu quả cho cả hai bên. Tuy nhiên, một số nông dân vẫn chưa thiết tha với mô hình bao tiêu sản phẩm này. Họ cho rằng tham gia 2 vào mô hình bao tiêu là không có lợi so với làm riêng rẽ.
Điều gì đang xảy ra ở đây? Có phải việc tham gia mô hình bao tiêu sản phẩm không mang lại hiệu quả kinh tế cho nông dân? Để trả lời cho câu hỏi trên cần phải tổ chức điều tra, xác định các tác động, so sánh thu nhập giữa các hộ nông dân tham gia và không mô hình trên địa bàn thành phố Rạch Giá. Đó cũng chính là lý do tôi chọn và thực hiện đề tài “Đánh giá tác động của việc tham gia mô hình bao tiêu sản phẩm Tập đoàn Lộc Trời đến hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ trên địa bàn Thành phố Rạch Giá giai đoạn 2015-2016”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU. Mục tiêu chung.
Phân tích tác động của việc tiếp cận mô hình bao tiêu sản phẩm Tập đoàn Lộc Trời đến hiệu quả sản xuất lúa của hộ gia đình nông dân trên địa bàn thành phố Rạch Giá từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất lúa cho hộ nông dân trong thời gian tới. Mục tiêu cụ thể. Phân tích, so sánh chi phí sản xuất và giá thành giữa nhóm tham gia mô hình bao tiêu và nhóm không tham gia mô hình. Tìm ra các nhân tố tác động đến hiệu quả sản xuất lúa của hộ gia đình nông dân.
Đề xuất một số giải pháp để tăng hiệu quả sản xuất lúa cho hộ nông dân trong thời gian tới. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU. Việc tham gia mô hình bao tiêu sản phẩm Tập đoàn Lộc Trời có tác động đến hiệu quả sản xuất lúa của hộ gia đình nông dân hay không? Có sự khác biệt về hiệu quả sản xuất lúa giữa nhóm hộ sản xuất lúa theo mô hình và nhóm hộ sản xuất lúa tự do không? Những giải pháp nào cần thực hiện để tăng hiệu quả sản xuất lúa cho hộ nông dân trong thời gian tới? 3 1. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU.
Giới hạn nội dung nghiên cứu. Luận văn chỉ tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa của hộ nông dân, nhất là các hộ có tham gia mô hình bao tiêu sản phẩm của Tập đoàn Lộc Trời. Qua đó so sánh hiệu quả sản xuất lúa với những hộ không tham gia từ đó đề ra một số giải pháp để tăng hiệu quả sản xuất lúa trong thời gian tới. Giới hạn địa bàn nghiên cứu.
Do thành phố Rạch Giá có 11 phường và 01 xã nhưng chỉ có 02 phường xã vùng ven là phường Vĩnh Thông và xã Phi Thông là chuyên về sản xuất lúa, 09 phường còn lại đa số đều bị ảnh hưởng “đô thị hóa” nên tác giả chọn 2 phường xã này để nghiên cứu. Giới hạn thời gian nghiên cứu. Do giới hạn về thời gian nghiên cứu nên đề tài chỉ nghiên cứu trong khoảng thời gian từ tháng 10/2015 – 09/2016 và thu thập số liệu từ vụ Đông xuân 2015 – 2016 và vụ Hè thu 2016. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.
TỔNG QUAN CÁC LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN. Lý thuyết chính tôi sử dụng làm cơ sở lý luận để nghiên cứu luận văn này là lý thuyết về hộ nông dân, lý thuyết về kinh tế học sản xuất và lý thuyết về sản xuất theo hợp đồng. Lý thuyết về hộ nông dân. Khái niệm về hộ.
Hộ là một đơn vị xã hội đã có từ xa xưa và nó luôn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay. Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ "Hộ là tất cả những người cùng chung sống trong một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công". Theo Liên hiệp quốc "Hộ là những người cùng chung sống dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ".
Chính từ chỗ có chung một ngân quỹ nên mọi thành viên của hộ trong quá trình hoạt động sản xuất đều cố gắng để tạo ra nhiều của cải để nuôi sống và tích lũy cho hộ và xã hội. Khái niệm về hộ nông dân. Theo Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung (2015) trong bài phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ chăn nuôi heo trên địa bàn quận Ô Môn, Cần Thơ, đã tổng hợp một số khái niệm về nông hộ như sau: Ellis (1998) định nghĩa “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”. Nhà nông học Nga - Traianốp cho rằng "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định" và ông coi "Hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp".
Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển. 5 Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”. Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”.
Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (2001), trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,.) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp". Tóm lại có nhiều quan niệm trong và ngoài nước về nông hộ nhưng nhìn chung nông hộ là hình thức tổ chức cơ sở của nông nghiệp ở nông thôn đã tổn tại từ lâu đời ở các nước nông nghiệp. Nông hộ bao gồm chủ yếu là những người có chung huyết thống, có thể có nhiều thế hệ. Nông hộ có thể chuyên trồng trọt, làm nghề rừng, chăn nuôi hoặc nuôi trồng thủy sản và cả hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn.
Những hoạt động này thông thường là mang lại nguồn thu nhập chính cho nông hộ. Khái niệm về kinh tế hộ nông dân. Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung (2015) cho rằng kinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp. Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài, dựa trên sự sở hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại và phát triển trong mọi chế độ kinh tế xã hội.
Trần Thị Mộng Thúy (2016), trong so sánh hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng lúa trong và ngoài mô hình sản xuất theo phương thức cánh đồng lớn tại Huyện Long Mỹ Tỉnh Hậu Giang, đã đưa ra khái niệm của Ellis (1988) về kinh tế hộ nông dân. Đó là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình. Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo và hoạt động thị trường. Lý thuyết về kinh tế học sản xuất 2.
Lý thuyết về hiệu quả kinh tế và các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế: là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định. Có thể hiểu một cách ngắn gọn, hiệu quả kinh tế là phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế, được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.