Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro xuất khẩu thủy sản Chương 2: Thực trạng rủi ro xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ Chương 3: Các biện pháp hạn chế rủi ro xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO XUẤT KHẨU THỦY SẢN 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN 1. Khái niệm xuất khẩu thủy sản Để hiểu rõ được về xuất khẩu thủy sản, trước tiên cần tìm hiểu thế nào là xuất khẩu hàng hóa. Dựa trên những góc độ tiếp cận khác nhau, chúng ta sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau về xuất khẩu hàng hóa.
Về cơ bản, xuất khẩu được hiểu là hoạt động kinh doanh buôn bán hàng hóa, dịch vụ cho một quốc gia, vùng lãnh thổ khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương thức thanh toán, đồng tiền ở đây có thể là ngoại tệ với một hoặc cả hai nước. Hoạt động này không diễn ra đơn lẻ mà là một hệ thống mua bán phức tạp dưới sự giám sát của các cấp nhà nước cả bên trong lẫn bên ngoài, nhằm mục đích đem lại lợi nhuận, ngoại tệ, lợi ích cho nền kinh tế quốc gia. Theo Điều 28, khoản 1, Luật Thương mại 2005, xuất khẩu hàng hóa được định nghĩa “là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường.
Trong các loại thủy sản, thông dụng nhất là hoạt động đánh bắt, nuôi trồng và khai thác các loại cá. Ngành thủy sản gồm hai bộ phận sản xuất chủ yếu là: ngành nuôi trồng và ngành công nghiệp sản xuất thủy sản. Ngoài ra, để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, còn có các hoạt động sản xuất phụ trợ và phục vụ khác. Trên cơ sở khái niệm xuất khẩu và thủy sản, xuất khẩu thủy sản có thể được định nghĩa như sau: Xuất khẩu thủy sản là hoạt động bán thủy sản ra nước ngoài nhằm mục đích khai thác lợi thế sẵn có của đất nước nhằm đem lại lợi nhuận, ngoại tệ và những lợi ích cho quốc gia.
Đặc điểm của xuất khẩu thủy sản - Hoạt động xuất khẩu thủy sản mang tính thời vụ Dựa trên quy luật sinh trưởng và phát triển của thủy sản, việc nuôi trồng và khai thác thủy sản ngoài sự tác động trực tiếp của con người còn phải chịu tác động của tự nhiên. Khí hậu phức tạp, sự thay đổi của mực nước và thời tiết khiến cho việc nuôi trồng và khai thác thủy sản không được liên tục và ổn định trong năm theo mặt hàng chế biến. Do vậy, sản lượng mỗi mùa mỗi khác, mỗi năm mỗi khác, tạo nên tính thời vụ rõ rệt trong sản xuất thủy sản. Hoạt động chế biến xuất khẩu không chỉ phụ thuộc vào thị trường mà việc tăng giảm lợi nhuận, kim ngạch xuất khẩu phụ thuộc rất nhiều vào năng lực chế biến trong nước, tức là sản lượng khai thác, nuôi trồng thủy sản.
Đây là một ngành phức tạp so với các ngành sản xuất vật chất khác. Để hạn chế tính thời vụ và nâng cao hiệu quả sản xuất thủy sản, cần phải giải quyết một số vấn đề: nghiên cứu những loài thủy sản có thời gian sinh trưởng ngắn, tập tính rộng, chịu lạnh, chịu hạn tốt, có khả năng sản xuất nhiều vụ trong một năm, bên cạnh đó cũng cần đa dạng hóa các công cụ khai thác và tổ chức khai thác xa bờ nhằm mở rộng đối tượng khai thác quanh năm. - Thủy vực là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế Thủy vực là thuật ngữ thường đề cập đến những nơi chứa nước lớn như đại dương, biển, hồ, nhưng cũng bao gồm những nơi chứa nước ít hơn như ao, đất ngập nước, hay hiếm gặp là vũng nước. Thủy vực cũng có thể không đứng yên mà chuyển động liên tục như sông, suối, kênh đào.
Thủy vực có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau của con người trong đời sống và kinh tế, bao gồm nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Thủy sản là các sinh vật sống trong nước nên thủy vực là tư liệu sản xuất đặc biệt, chủ yếu, không thể thay thế được của ngành thủy sản. Đất đai là tư liệu sản xuất khác với các tư liệu khác ở chỗ: diện tích có giới hạn, vị trí cố định, nếu sử dụng hợp lí và hiệu quả thì diện tích đất đai không bị hao mòn đi mà còn tốt lên. Mặt khác, thủy vực là tư liệu sản xuất không đồng nhất về chất lượng do cấu tạo thổ nhưỡng, địa hình, vị trí dẫn đến độ màu mỡ của đất đai diện tích mặt nước giữa các vùng trở nên khác nhau.
Do đó, khi sử dụng đất đai 2 diện tích mặt nước phải hợp lí, quản lí chặt chẽ diện tích mặt nước cả trên ba mặt pháp chế, kinh tế, kĩ thuật. - Có tiêu chuẩn nghiêm ngặt Hàng thủy sản là mặt hàng thực phẩm, nên khi xuất khẩu mặt hàng này luôn gặp phải rào cản về VSATTP và đặc biệt là chất lượng của mặt hàng xuất khẩu cần phải được đảm bảo ngay từ khâu nuôi trồng, chế biến, đến tiêu thụ. - Xuất khẩu thủy sản là ngành đòi hỏi có tính hỗn hợp, tính liên ngành cao Xuất khẩu thủy sản gồm nhiều hoạt động sản xuất cụ thể có tính chất tương đối khác nhau nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau theo một chuỗi mắt xích, từ khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản. Khi trình độ lao động còn thấp kém, các hoạt động sản xuất chưa có sự tách biệt rõ ràng, thậm chí còn lồng ghép vào nhau khiến khối lượng sản phẩm sản xuất ra còn ít, chất lượng thấp và chủ yếu đáp ứng nhu cầu thị trường nhỏ hẹp, chủ yếu đáp ứng nhu cầu dưới dạng sản phẩm tươi.
Hiện nay, khi công nghệ phát triển, khi trình độ con người ngày một nâng cao thì các hoạt động trên được chuyên môn hóa ngày càng cao, quy mô sản xuất tăng lên cùng với việc nhu cầu tiêu dùng của xã hội đa dạng và phức tạp hơn, đòi hỏi phải phát triển mạnh mẽ các ngành chuyên môn hóa hẹp như: công nghiệp đánh bắt thủy sản, công nghiệp sản xuất thức ăn cho nuôi trồng thủy sản, công nghiệp chế biến thủy sản,. Như vậy, để tạo ra một sản phầm thủy sản xuất khẩu có chất lượng cao thì đòi hỏi phải có tính liên ngành, tính hỗn hợp cao của các hoạt động sản xuất tương đối khác gồm khai thác, nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu. Do đó, doanh nghiệp có thể sản xuất với số lượng lớn để phục vụ những thị trường có nhu cầu cao. Ngoài ra, ngành thủy sản còn vừa mang tính chất của sản xuất nông nghiệp, vừa mang tính chất của sản xuất công nghiệp thể hiện ở bộ phận nuôi trồng thủy sản và công nghiệp thủy sản.
Thứ nhất, nuôi trồng thủy sản là bộ phận mang tính nông nghiệp, có nhiệm vụ duy trì, bổ sung và tái tạo nguồn lợi thủy sản và cung cấp nguyên liệu trực tiếp cho xuất khẩu, tiêu dùng và các ngành công nghiêp chế biến khác. 3 Thứ hai, nuôi trồng thủy sản là bộ phận mang tính công nghiệp, gồm khai thác và chế biến thủy sản, có nhiệm vụ khai thác nguồn lợi thủy sản và chế biến chúng để cung cấp sản phẩm tiêu dùng và phục vụ nhu cầu xuất khẩu. Các hình thức xuất khẩu thủy sản Thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng hơn và kèm theo đó là sự đa dạng về các hình thức xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu, điều kiện của từng quốc gia, từng doanh nghiệp nhằm tối đa lợi ích. Trong đó, có một số hình thức xuất khẩu điển hình: - Xuất khẩu trực tiếp Là việc xuất khẩu các mặt hàng thủy sản do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước tới khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức của mình, người bán và người mua liên hệ trực tiếp với nhau để bàn bạc, thỏa thuận về hàng hóa, giá cả và các điều kiện giao dịch khác.
Hình thức này có ưu điểm là các doanh nghiệp sẽ tiếp cận trực tiếp với thị trường nhập khẩu, nắm bắt được rõ thị trường, nhu cầu, thị hiếu của khách hàng, có thể linh hoạt trước những biến động về môi trường, khách hàng, để chủ động, kịp thời đưa các hoạt động xuất khẩu của công ty phù hợp hơn với thị trường nước ngoài, bên cạnh đó còn tiết kiệm được khoản chi phí trung gian. Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi chi phí cao và nguồn nhân lực lớn để thực hiện việc giao dịch trực tiếp, phát triển thị trường. Các doanh nghiệp cũng phải chịu nhiều rủi ro, có thể là không bán được hàng hoặc giá cả thay đổi, hoặc đội ngũ nhân viên thiếu kinh nghiệm trong xử lý công việc, gặp sai sót trong quá trình thực hiện hợp đồng,… do giá trị lớn nên sẽ gây ra thiệt hại lớn. Vì vậy, hình thức này nên áp dụng với những doanh nghiệp có trình độ và quy mô sản xuất lớn.
- Xuất khẩu gián tiếp Là hình thức xuất khẩu mà doanh nghiệp không trực tiếp đàm phán, tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu mà nhờ sự giúp đỡ của bên trung gian thứ ba. Trung gian này có thể là công ty quản lý xuất khẩu, nhà ủy thác xuất khẩu, môi giới 4 xuất khẩu, hãng buôn xuất khẩu. Bên trung gian sẽ nhận được một khoản tiền nhất định để tiến hành xuất khẩu hộ. Hình thức này phù hợp với những công ty có quy mô nhỏ, nguồn lực có hạn, hạn chế trong việc khai thác thông tin về thị trường nước ngoài, người tiêu dùng, đối thủ cạnh tranh, phù hợp với DN xuất khẩu thủy sản có quy mô vừa và nhỏ.
Do đó, sử dụng bên trung gian sẽ giúp cho việc buôn bán được đẩy mạnh hơn, phát triển nhanh hơn và tránh được những rủi ro như khi xuất khẩu trực tiếp.