CHƯƠNG 1: MỘT s ố VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ THÚC ĐAY XUẤT KHẨU Chiến lược sản xuất hướng về xuất khẩu là chiến lược ' mở cửa hướng ra thị trường ben ngoài. Chiến lược này được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước Mỹ La tinh từ những năm 50 và ở những nước Đông Bắc, Đông Nam Á từ những năm 60. Phương pháp luận của chiến lược này là sự phân tích về việc sử dụng các "lợi thế so sánh", hay những nhân tố sản xuất thuộc tiềm năng của một nước như thế nào trong sự phân công lao động quốc tế, dể mang lại lợi ích toi ưu cho một quốc gia. Theo cách tiếp cận đó, chiến lược "hướng về xuất khẩu" là giải pháp "mở cửa" nền kinh tế quốc dân để thu hút một cách tối ưu các nguồn vốn và kỹ thuật trong và ngoài nước vào khai thác những tiềm năng lao dộng và tài nguyên của đất nước để đẩy mạnh xuất khâu phat triên kinh te nước nhà.
Chiến lược này nhấn mạnh vào các nhân tố cơ bản sau đây: - Thay cho kiểm soát nhập khẩu để tiết kiệm được ngoại tệ và kiểm soát tài chính là khuyến khích mở rộng và đẩy mạnh xuất khẩu. -H ạn chế bảo hộ công nghiệp địa phương mà thực chất là nuôi dưỡng tính ỷ lại mà thay vào đó là nâng đỡ và hỗ trợ cho các ngành sản xuất hàng V xuất khẩu. - Đảm bảo môi trường đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài thông qua một hệ thống các chính sách khuyến khích và kinh tế tự do để thu hút đến mức tối da nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài. -8- Mục tiêu cơ bản của chiến lược này dựa vào mở mang đầu tư trong nước cũng như đầu tư trực tiếp và hỗ trợ từ bên ngoài để tạo ra khả năng cạnh tranh cao của hàng xuất khẩu.
Nhờ áp dụng chiến lươc này, nền kinh tế các nước đang phát tnên tiong vài ba thập kỷ qua đã đạt được một tốc độ tăng trưởng cao, một số ngành nhất là các ngành chế biến xuất khẩu đạt được trình độ kỹ thuật tiên tiên, co kha năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Ngoại thương trở thành đâu tàu cua nền kinh tế. Việc mở rộng xuất khẩu của các nước đang phát triển đã được khích lệ rất nhiều bởi hoạt động xuất khẩu rất ngoạn mục của các nước như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, Braxin trong vài ba thập kỷ vừa qua. Chẳng hạn, tổng kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan tăng hàng năm VỚI tôc độ hơn 20% trong khi đó tốc độ tăng xuất khẩu của Hàn Quốc còn cao hơn nữa.
Chính sự gia tăng đáng kể của xuất khẩu đã đóng góp vào hơn 80% thu nhập của các nước này. Từ kinh nghiệm xây dựng và phát triển của các nước và căn cứ vào tình hình thực tiễn của đất nước, Đảng Cộng sản Việt nam đã xác đinh nhưng hướng lớn trong chính sách ngoại thương của nước ta như sau: Kinh te hang hoá đòi hỏi phải tiếp tục khắc phục tình trạng tự cấp tự túc, chia cắt, khép kín. Các đơn vị cơ sở, các ngành, các địa phương cho đến toàn bộ nên kinh tê phai phát huy lợi thế tương đối, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá đáp ứng tốt nhu cầu của sản xuất và đời sống, hướng mạnh về xuàt khẩu, thay thế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất có hiệu quả. Mở rộng, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ kính tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi, thu hút các nguồn lực bên ngoài để phát huy mạnh mẽ các lợi thế và nguồn lực bên -9- trong".
Như vậy, hướng về xuất khẩu là một trong những ưu tiên trong chính sách kinh tế nói chung và chính sách ngoại thương nói riêng của nước ta.1 Những tiền đề và phương hướng thúc đẩy, mở rộng xuất khẩn.7 Những tiền đề cho mở rộng xuất khẩu.ỉ M ở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại. Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại, thường thì xuất khẩu xuất hiện trước, song việc mở rộng các hoạt động kinh tế đối ngoại lại là một tiền đề quan trọng thúc đẩy xuất khẩu phát triển. Điều đó thể hiện ở các khía cạnh sau: - Quan hệ đối ngoại nói chung và quan hệ kinh tế đối ngoại nói riêng càng rộng mở thì cũng có nghĩa là thị trường xuất khẩu càng mở lộng, các thương nhân trong nước càng có cơ hội tiếp xúc với các thương nhau nước ngoài và thâm nhập được nhiều thị trường nước ngoài, phát huy được những lợi thế so sánh của nước nhà. Trong điều kiện hiện nay, quan hệ kinh tế đối ngoại càng tốt thì xuất khẩu càng có điều kiện phát triển do được hưởng những "ưu ái" về thuế quan cũng như phi thuế quan, về thủ tục xuất khẩu.
- Tăng cường các quan hệ kinh tế đối ngoại trên cơ sở các hiệp ước, hiệp "9*0 định, điều ước quốc tế mà Chính phủ tham gia ký kết thì các nguồn vốn tín dụng quốc tế dành cho nước nhà được gia tăng. Nguồn vốn này, một mặt dùng đổ mở mang giao thông, cầu cảng, phát triển kết cấu hạ táng, mặt khác có thể dùng để đầu tư mở rộng, phát triển sản xuất nói chung và sản xuất hàng xuất khẩu nói riêng. Bên cạnh nguồn vốn tín dụng, nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất. cũng gia tăng, làm tăng khả năng và nguồn hàng xuất khẩu.
- Thông qua các hoạt động kinh tế đối ngoại, hợp tác khoa học và chuyển giao công nghệ, một mặt, chúng ta có điều kiện tiếp nhận những công nghệ tiên tiến, đảm bảo có thể sản xuất ra những mặt hàng có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu của thị trường thê giới. Mặt khác, khả năng và trình độ khoa học- kỹ thuật của nước nhà cũng được nâng cao làm thúc đẩy sản xuất phát triển. - Đẩy mạnh xuất khẩu sức lao động cũng là một tiền đề để mở rộng xuất khẩu hàng hoá. Bởi vì, những người đi lao động ỏ nước ngoài, với những thói quen tiêu dùng vốn có đối với những sản phẩm trong nước cũng sẽ tạo ra nhu cầu để nước sở tại nhập khẩu hàng hoá của nước mình.
Khi xuất khẩu sức lao động để thực hiện những công trình theo kiểu chìa khoá trao tay mà bên xuất khẩu chịu trách nhiệm cung ứng nguyên liệu hay máy móc thiết bị thì cũng sẽ đẩy mạnh xuất khâu. Khi làm việc Ư nước ngoài, những người lao động có thể tìm hiểu thị trường tại chỗ và ký kết các hợp đồng mua bán hàng hoá. Trước đây trong điều kiện quốc tế đầu thế kỷ XX, Lê- nin đã cho lăng: một nước nhỏ, nghèo, lạc hậu muốn xây dựng thcành công chủ nghĩa xã hội phải có một nước tiên tiến đi trước giúp đỡ. Ngày nay, hoàn canh quôc tê da thay đổi, không còn hệ thống xã hội chủ nghĩa, không còn các nước xã hội chủ nghĩa lớn, giàu mạnh đi trước để giúp đỡ các nước nhỏ, lạc hậu.
Trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế thê giới thê hiện ơ xu thê toan cau hoá" "khu vực hoá" và sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện nay thì tiền đề quốc tê cho mot nươc nho, nghèo thục hiện thành công công nghiệp hoá đất nước nói chung và đẩy mạnh xuất khẩu nói riêng là một môi trường quốc tế hoà bình, ổn định và hợp tác dê phát ti lên. Việt nam với đường lối ngoại giao đa phương, đa dạng, muốn làm bạn với tát cả các nước trong cộng đồng quốc tế vì hoà bình, độc lập và phát triển đã tạo -li ra một điều kiện quốc tế thuận lợi cho việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của Việt nam ra thị trường thế giới. Năm 1991, Việt nam bình thường hoá quan hệ với Trung quốc, từ đó mối quan hệ hợp tác kinh tế và chính trị giữa hai nước không ngừng được củng cô và tăng cường qua những chuyến thăm cua lãnh đạo hai nuơc. Thang 7/1992, Việt nam trở thành quan sát viên Hiệp định Ba Li và ba năm sau trở thành thành viên chính thức của ASEAN cùng với hàng loạt các hiệp định kinh tế, thương mại song phương được ký kết.
Năm 1992, Nhật bản nối lại viện trợ cho Việt nam đưa mối quan hệ ngoại giao, kinh tế (vốn được thiết lập từ 20 năm trước song bị gián đoạn vì lý do chính trp lên một tầm cao mơi trong nhiều lĩnh vực. Năm 1993 được đánh dấu bởi hàng loạt các Hiệp định thương mại của nước ta với các nước Tây Âu, cùng với việc khẳng định quan hệ với các nước Hàn quốc, Australia, và Niudilân. Những năm gần đây, mối quan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống giữa Việt nam và Liên bang Nga, SNG, và các nước Đông Âu cũng được củng cố, tăng cường và đi vào thực chất, góp phần vào sự phát triển kinh tế của nước ta. Bên cạnh đó, tăng cường hợp tác với các nước Bắc Ầu, Nam Mỹ, Bắc Mỹ, Trung Đông.
cũng tạo thêm những cơ hội mới cho chúng ta trong việc mở rộng thị trường, đầu tư, và chuyển giao công nghệ. Ngày 03/02/1994, Mỹ bình thường hoá quan hệ với Việt nam, mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ Việt- Mỹ là đi đến ký kết Hiệp đinh Thương mại Việt Mỹ. Khi Hiệp định này được ký kết, những khả năng to lớn cho hàng hoá Việt nam thâm nhập thị trường Mỹ, chuyển giao công nghệ và đầu tư vào Việt nam sẽ mở ra góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng cua nươc ta. 1hang 1 1/1998 Việt nam trở thành thành viên chính thức của APEC, mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ hợp tác toàn diện với các nước trong khu vục Chau A Thái Bình Dương.
-12- Như vậy, với mối quan hệ ngoại giao với L67 nước, quan hệ kinh tê vơi trên 100 nước và khu vực, lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, bình thường hoá quan hệ với Trung quốc, ký hiệp định khung với EU, gia nhập ASEAN, tham gia diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương, đã ký hiệp (lịnh thương mại với Mỹ và đang chuẩn bị gia nhập WTO. Việt nam đang hội nhập với khu vực và thế giới. Điều kiện quốc tế đó vừa nâng cao vai trò của Việt nam trên trường quốc tế, vừa tao điều kiện cho Việt nam tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế mở rộng thị trường xuất khẩu, tận dụng vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý của thế giới.