Phần mở đầu: + Lý do chọn đề tài + Tính cấp thiết của đề tài. + Tình hình nghiên cứu và tính mới của đề tài + Câu hỏi nghiên cứu + Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu + Mục đích của đề tài + Phƣơng pháp nghiên cứu. + Nội dung khái quát của đề tài. - Phần nội dung: + Chƣơng 1: Cơ sở lý luận + Chƣơng 2: Đặc điểm các thành ngữ có yếu tố chỉ tiền bạc trong tiếng Việt và tiếng Anh.
+ Chƣơng 3: Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ và một vài nét văn hóa liên quan đến ngữ nghĩa của thành ngữ có yếu tố chỉ tiền bạc trong tiếng Việt và tiếng Anh. Phần kết luận: Kiến nghị và giải pháp. - TÀI LIỆU THAM KHẢO - MỤC LỤC 7 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm và tính chất thành ngữ 1.
Khái niệm và tính chất thành ngữ tiếng Việt: 1. Khái niệm thành ngữ tiếng Việt Từ xƣa đến nay thành ngữ trở thành đối tƣợng đƣợc tìm hiểu nghiên cứu của nhiều học giả, các nhà ngôn ngữ học và một số ngành khoa học. Theo đó, đến này cũng có nhiều quan điểm khác nhau về thành ngữ. Nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nguyễn Thiện Giáp [2009] cho rằng: “Thành ngữ là những cụm từ mà trong cơ cấu cú pháp và ngữ nghĩa của chúng có những thuộc tính đặc biệt, chỉ có ở cụm từ đó.
Nói cách khác, thành ngữ là một cụm từ mà ý nghĩa của nó không được tạo thành từ ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó. Ngay cả khi biết nghĩa của tất cả các từ trong đó vẫn chưa thể đoán chắc nghĩa thành ngữ của cả cụm từ đó‖ [tr. Trong khi đó Tác giả Nguyễn Nhƣ Ý trong cuốn Từ điển Giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học [1992], thành ngữ đƣợc hiểu: ―Là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ý nghĩa của các yếu tố cấu thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu‖ [tr. Với nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Đỗ Hữu Châu[1986] Các bình diện của từ và từ Tiếng Việt thì thành ngữ đƣợc hiểu: “Là cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập, kết hợp lại với nhau thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh, khó có thể thay đổi được‖ [tr.
Ở một khía cạnh khác, nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Hoàng Văn Hành trong quyển Thành Ngữ học tiếng Việt [1997], định nghĩa về thành ngữ nhƣ sau: “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hằng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ. Thành ngữ thường biểu hiện một khái niệm tương đương như đơn vị từ được dùng để tạo thành phần câu như từ, hay nói cách khác, nó có chức năng như từ; nguời ta có thể thay thế một thành ngữ bằng một từ tương ứng với nó trong câu‖ [tr. 8 Từ những trình bày trên đây cho thấy, dù có định nghĩa thành ngữ ở khía cạnh nào đi chăng nữa thì chung quy có thể xem, thành ngữ là những cụm từ cố định, là đơn vị có sẵn trong kho từ vựng, có chức năng định danh tức gọi tên sự vật và phản ánh khái niệm một cách gợi tả và bóng bẩy. Với những đặc điểm trên, thành ngữ đã trở thành đơn vị thƣờng dùng, có khả năng giao tiếp.
Ngoài đặc điểm của một đơn vị ngôn ngữ, thành ngữ còn tồn tại những dấu ấn của một đơn vị văn hóa, tiềm ẩn những đặc điểm văn hóa dân tộc. Chính vì điều đó nên có thể xem thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ-văn hóa. Trong phạm vi luận văn này ngƣời nghiên cứu xin phép đƣợc chia sẻ và lấy quan điểm về thành ngữ trong tiếng Việt của nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Hoàng Văn Hành và tƣ liệu nghiên cứu từ cuốn Thành ngữ tiếng Việt của Phạm Văn Bình (2003) làm nòng cốt để thực hiện luận văn. Tính chất thành ngữ Tiếng Việt Nhƣ trên đã trình bày, thành ngữ là một tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái- cấu trúc, hoành chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa qua đó đã cho ta thấy đƣợc rõ ràng hai đặc tính đang tồn tại trong thành ngữ, đó là: a.
Tính cố định về hình thái- cấu trúc của thành ngữ Điều này đƣợc thể hiện ở những đặc điểm sau: Một là, thành phần từ vựng của thành ngữ, nói chung là ổn định, nghĩa là, các yếu tố tạo nên thành ngữ hầu nhƣ đƣợc giữ nguyên trong sử dụng, mà trong nhiều trƣờng hợp không thể thay thế bằng các yếu tố khác. Chẳng hạn, phải nói Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng, chứ không đƣợc nói Mua danh ba mươi ngàn, bán danh ba đồng, mặc dù, vạn tiếng Việt cổ có nghĩa là mƣời ngàn. Hai là, tính bền vững về cấu trúc của thành ngữ thể hiện ở sự cố định về trật tự các yếu tố tạo nên thành ngữ. Ví dụ, chúng ta thƣờng nói Nén bạc đâm toạc tờ giấy, chứ không nói hoặc rất ít ngƣời nói Tờ giấy bị nén bạc đâm toạc.
Tính ổn định, cố định về thành phần từ vựng và cấu trúc của thành ngữ hình thành là do thói quen sử dụng của ngƣời bản ngữ. Tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa. 9 Thành ngữ biểu thị những khái niệm hoặc biểu tƣợng trọn vẹn về các thuộc tính, quá trình hay sự vật. Nói cách khác, thành ngữ là những đơn vị định danh của ngôn ngữ, ví dụ, Ngồi mát ăn bát vàng - chỉ việc kiếm tiền dễ dàng.
Nhƣng, khác với các đơn vị từ vựng bình thƣờng, thành ngữ là loại đơn vị định danh bậc hai, nghĩa là nội dung của thành ngữ không hƣớng tới điều đƣợc nhắc đến trong nghĩa đen của các từ ngữ tạo nên thành ngữ mà ngụ ý điều gì đó suy ra từ chúng, ví dụ, cá nằm trên thớt không phải miêu tả con cá đang nằm trên thớt mà ngụ ý nói đến trạng thái nguy hiểm đến sự sống còn. Đó là nghĩa bóng hay nghĩa biểu trƣng đƣợc hình thành nhờ quá trình biểu trƣng văn hóa. Biểu trƣng hóa dựa vào quan hệ tƣơng đồng và tƣơng cận trong quá trình liên hội ngữ nghĩa đƣợc gọi là giá trị biểu trưng hóa ngữ nghĩa. Hình thái liên hội ngữ nghĩa theo quan hệ tƣơng đồng là so sánh.
Có hai cách so sánh : + So sánh hiện: đó là tỷ dụ hóa, ví dụ, nóng như lửa, lạnh như tiền [16,tr.25] + So sánh ẩn: đó là ẩn dụ hóa, ví dụ: mặt sứa gan lim [16,tr.45] Hình thái liên hội ngữ nghĩa theo quan hệ tƣơng cận là hoán dụ hóa, ví dụ, ba chân bốn cẳng [16,tr.20] Nghĩa của thành ngữ tiếng Việt thƣờng là kết quả của hai hình thái biểu trƣng hóa: hình thái tỷ dụ (so sánh) và hình thái ẩn dụ (so sánh ngắn). Ngoài hai đặc tính đang đề cập trên thì thành ngữ còn tồn tại những tính chất nhƣ sau : c.Tính biểu trưng Có nhiều quan niệm khác nhau về tính biểu trƣng cụ thể nhƣ sau : Theo Đỗ Hữu Châu(1981), “Biểu trưng là cơ chế tất yếu mà ngữ cố định và từ vựng phải sử dụng để ghi nhận diễn đạt những nội dung phức tạp hơn một khái niệm đơn. Ngữ cố định lấy những vật thực, việc thực để biểu trưng cho những đặc điểm, tính chất, hoạt động, tinh thể phổ biến khái quát” [4,tr. Có thể nói nét đặc sắc của thành ngữ là tính biểu trƣng.
Biểu trƣng là lấy cái A để diễn đạt cái B, và “quy chiếu là có nguyên do”, những hình ảnh, sự vật đƣợc sử dụng trong thành ngữ biểu trƣng cho lối sống, nét suy nghĩ của tác giả dân gian. Biểu trƣng lấy những vật 10 thực, việc thực, cụ thể, riêng lẻ làm biểu tƣợng để nêu lên những hiện tƣợng có tính chất trừu tƣợng khái quát chủ yếu thông qua hình thái so sánh, ẩn dụ hoặc hoán dụ. Từ các quan niệm nêu trên về biểu trưng, ta thấy hầu hết các thành ngữ dù có tính biểu trƣng cao nhƣ: Tiền rừng, bạc bể hay thấp nhƣ: ba cọc ba đồng, đều là những bức tranh nho nhỏ về ngƣời thực, việc thực, cụ thể, riêng lẻ, đƣợc nâng lên để nói về cái phổ biến, khái quát, trừu tƣợng. Từ những tƣ liệu thực tế khách quan, quan sát, đúc kết của tác giả dân gian là những hình ảnh bình dị, mộc mạc, gần gũi, mang tính truyền thống đã cố định lại thành cụm từ (hay tổ hợp từ) với các phƣơng thức biểu hiện so sánh, ẩn dụ, hoán dụ.
Ví dụ cặp biểu trƣng mèo- chuột trong tiềm thức dân gian biểu trƣng cho hai loại ngƣời đối lập nhau trong xã hội, một bên là độc ác tham lam, một bên là hạng ngƣời lép vế bị áp bức. Nội dung của thành ngữ chính là nghĩa bóng của tổ hợp từ tạo nên thông qua nghĩa đen tức là hình thức bên ngoài. Vì vậy, việc dùng thành ngữ bao giờ ngƣời ta cũng dựa theo nghĩa bóng. Ví dụ chuột chạy cùng sào đƣợc hiểu theo nghĩa đen là con chuột đã hết đƣờng chạy.
Nếu giải nghĩa đen thì ta sẽ không diễn đạt đầy đủ nghĩa biểu trƣng của nó. Mà qua thành ngữ có biểu trƣng là hình ảnh “con chuột” đó ngụ ý muốn nói lên tình thế của một ai đó bị dồn vào bƣớc đƣờng cùng, không lối thoát mặc dầu đã xoay xở hết cách. Có thể kể thêm một số ví dụ sau: + Cá chậu chim lồng – ẩn dụ tƣợng trƣng cho sự bị kiềm kẹp mất tự do. + Chân lấm tay bùn – hoán dụ tƣợng trƣng cho sự gian lao vất vả.
+ Vắng như chùa Bà Đanh – so sánh ý nói sự vắng vẻ, ít ngƣời lui tới. Tính biểu trƣng góp phần làm thành ngữ đảm bảo nội dung đƣợc đủ ý, vừa đạt đƣợc tính hàm súc mà lại gây đƣợc ấn tƣợng sâu trong giao tiếp và vì thế nên đƣợc sử dụng rộng rãi trong cộng đồng. Tính cụ thể Theo Hoàng Văn Hành (1992), tính cụ thể của thành ngữ thể hiện ở tính bị quy định về phạm vi sử dụng. Chẳng hạn, ngƣời Việt Nam xem Rồng là biểu tƣợng thiêng liêng, là nguồn gốc dòng giống ngƣời Việt Nam, ta có thành ngữ con rồng cháu tiên – tƣ liệu biểu trƣng sâu sắc, cụ thể.
Tuy nhiên ta không thể đem thành ngữ này biểu trƣng cho nguồn gốc của một nƣớc phƣơng Tây nào đó. 11 Hay với thành ngữ chuột chạy cùng sào, dùng để chỉ tình thế khó khăn bế tắc của con ngƣời trong cuộc sống.