CHƯƠNG 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 1. Khái niệm Thành ngữ là gì? Thành ngữ có những đặc điểm gì? Đây cũng là vấn đề mà các nhà Việt ngữ học nói riêng và các nhà ngôn ngữ học nói chung rất quan tâm ; họ đã cố gắng làm rõ trong thời gian qua. Trước hết ta hãy xem xét các cách xác định thành ngữ trong tiếng Việt: Trong “Tổng tập văn học dân gian người Việt”, do Nguyễn Xuân Kính (chủ biên), tác giả đã cho rằng: “thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định danh, dùng để gọi tên sự vật hoặc để chỉ tính chất, hành động. Về mặt này, thành ngữ là những đơn vị tương đương từ” [41].
Còn Vũ Ngọc Phan trong “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” thì: “thành ngữ một phần câu sẵn có, là bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn”. Theo tác giả Hoàng Văn Hành trong “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ”, Nxb. KHXH, 1994, thì “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái – cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ”. Và một định nghĩa khác: “Thành ngữ là những cụm từ cố định, là đơn vị có sẵn trong kho từ vựng, có chức năng định danh, tức gọi tên sự vật và phản ánh khái niệm một cách gợi tả bóng bẩy… Thành ngữ còn có những dấu ấn của một đơn vị văn hóa, còn tiềm ẩn, trầm tích những đặc điểm văn hóa dân tộc.
Hay “Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa thường không phản ánh những lối nói, lối suy nghĩ đặc thù của dân tộc, phản ánh khái niệm và hiện tượng. Những định nghĩa trên đây về thành ngữ của các nhà ngữ học Việt Nam cho thấy có những điểm chung sau đây: 1/ Thành ngữ xét về cấu trúc là những cụm từ cố định. 17 2/ Có chức năng định danh. 3/ Nghĩa của thành ngữ là nghĩa bóng bẩy, không phải là dấu cộng các nghĩa của các thành tố.
Trong chuyên đề này chúng tôi chủ yếu nghiên cứu hiện tượng chuyển nghĩa của từ chỉ số lượng trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt nên chúng tôi không đi sâu vào việc nghiên cứu phân tích các khái niệm về thành ngữ, tục ngữ mà chúng tôi chỉ nêu ra các khái niệm, các quan niệm của các tác giả về thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt và xem đó như là những cơ sở lí thuyết để giúp chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích hiện tượng chuyển nghĩa của từ chỉ số lượng qua hai đối tượng này. Về đặc điểm cấu trúc Thành phần từ vựng của thành ngữ nói chung là tương đối ổn định. Tính ổn định của nó còn được thể hiện ở sự ổn định của các thành tố cấu tạo nên nó. Chẳng hạn, người ta thường nói “con ông cháu cha” chứ ít có ai nói “cháu cha con ông”.
Điều này là do tính vần điệu, tiết tấu và quan hệ đối vị quy định. Chúng ta có thể nhận thấy rằng, tính cố định, ổn định về thành phần từ vựng và cấu trúc của thành phần là do thói quen sử dụng được gọt giũa trong một thời gian dài. Vì thế, thành ngữ có tính cô đọng, chuẩn và mang ý nghĩa xã hội cao. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là những thành ngữ là những cụm từ chết cứng mà ngược lại chúng được vận dụng khá nhiều trong đời sống hằng ngày, trong giao tiếp và trong văn chương với sự chuyển đổi nghĩa khá uyển chuyển.
Chính vì điều này mà nhiều thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ số lượng có khả năng truyền tải được sâu, hay và cô đọng những ý nghĩa mà người nói muốn hướng đến người nghe, người đọc. Tính bền vững của thành ngữ trong hệ thống chuẩn và tính uyển chuyển của nó trong sử dụng là hai mặt không hề mâu thuẫn, loại trừ nhau. Chẳng hạn, khi nghe thành ngữ “hai sương một nắng”, chúng ta chỉ có thể tưởng tượng được hình ảnh về những người nông dân lam lũ, cần cù, vất vả với công việc đồng áng,… Các từ chỉ số lượng “hai….một” không còn là những con số đếm 18 cụ thể khô cứng nữa mà nó đã chuyển sang một ý nghĩa khác, một ngữ nghĩa mới mang tính biểu trưng, trừu tượng và khái quát hơn. Thành ngữ được xem là những tổ hợp từ “đặc biệt”, biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy.
Về chức năng cấu tạo Thành ngữ tương đương với một từ hoặc một cụm từ. Ví dụ: “Tích tiểu thành đại”. Về đặc điểm ngữ nghĩa Thành ngữ có tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa. Khác với các đơn vị từ vựng bình thường, thành ngữ có chức năng định danh bậc hai.
Hay nói một cách khác, thành ngữ không chỉ hướng đến những điều được đề cập ở nghĩa đen của nó mà còn tạo nên nghĩa biểu trưng. Mỗi đơn vị thành ngữ thường có hai nghĩa: Nghĩa đen và nghĩa bóng. Nghĩa đen toát ra từ bản thân sự vật, hiện tượng do thành ngữ ghi lại. Nghĩa bóng do việc mở rộng ý nghĩa của sự vật hoặc hiện tượng cá biệt ấy vào nhiều sự vật hoặc hiện tượng khác.
Ví dụ thành ngữ: “Chỉ tay năm ngón” không chỉ đơn thuần miêu tả các ngón tay cụ thể. Ý nghĩa của nhằm nói về người không trực tiếp làm mà đứng ở ngoài điều khiển công việc, hoặc nói về những người lười lao động. Như vậy con số 5 trong tổ hợp “năm ngón” ở trên không còn là con số tự nhiên nữa , nó đã chuyển sang một ý nghĩa khác trừu tượng hơn. Mặc dù vậy, chúng ta cũng không nên tuyệt đối hóa vấn đề ý nghĩa biểu trưng của các con số trong thành ngữ.
Bởi vì trong thực tế tiếng Việt còn có khá nhiều thành ngữ được sử dụng theo nghĩa đen (nghĩa thực) của các nhân tố cấu tạo nên nó. Chẳng hạn các thành ngữ: “Nát như tương”; “Đen như cột nhà cháy”, v. Khái niệm 19 Như chúng ta đã biết, Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, có nhịp, hình ảnh, ổn định và thường có nhiều nghĩa thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt trong đời sống xã hội. Có rất nhiều quan niệm về tục ngữ trong tiếng Việt.
Xin giới thiệu một số quan niệm: Theo tác giả Hoàng Phê (2002), trong “Từ điển tiếng Việt”, Nxb. Đà Nẵng thì “Tục ngữ là câu ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống, đạo đức thực tiễn của nhân dân”. Còn tác giả Nguyễn Như Ý (1993), trong “Từ điển thành ngữ Việt Nam”, thì cho rằng: “Tục ngữ là câu ngắn gọn, có cấu trúc tương đối ổn định, đúc kết kinh nghiệm sống, đạo đức, tri thức của một dân tộc và không bao hàm nghĩa khuyên răn trực tiếp”. Tác giả Vũ Ngọc Phan trong “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” đã nêu ra một định nghĩa: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một lý luận, một công lý, có khi là một sự phê phán”.
Tác giả Nguyễn Đức Dân ở bài viết “Đạo lý trong tục ngữ” đã nêu ra một định nghĩa về tục ngữ như sau: “Tục ngữ là những câu ổn định về cấu trúc, phản ánh những tri thức, kinh nghiệm và quan niệm (dân gian) của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội” [10]. Như vậy, chúng ta nhận thấy các tác giả trên đều chú ý đến “mặt ổn định về cấu trúc”, “có hình thức bền vững” của tục ngữ. Đối với Hoàng Văn Hành (1994), trong “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ” thì lại quan niệm: “Tục ngữ là những câu – ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật”. Có thể nói rằng, đề tài về tục ngữ rất rộng, bao quát hầu như tất cả các lĩnh vực của thực tại.
Tục ngữ làm giàu, làm đẹp và sâu sắc thêm cho lời nói và giúp cho người nói diễn đạt, truyền tải ý nghĩa một cách hiệu quả, ngay cả đối với những vấn đề tế nhị, khó nói. Đúng như Chu Xuân Diên đã từng nhận xét trong cuốn “Văn hóa dân gian mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại”: “Sở dĩ tục ngữ có thể giữ nguyên dạng đã có sẵn của nó như vậy vì không những nó có cấu trúc hình 20 thức tương đối ổn định, mà thường lại được dùng như một lời khuyên răn, hay như một phán đoán – luận cứ trong hình thức chứng minh của tư duy logic”. Vể đặc điểm cấu trúc Như chúng ta đã biết, Tục ngữ có tính chất hai mặt: Thứ nhất là tính chất văn học nghệ thuật (âm điệu, hình ảnh, tình cảm) và thứ hai là tính chất phi văn học nghệ thuật (kinh nghiệm, khoa học thực hành, triết lý thực tiễn). Chính vì thế mà tục ngữ được xếp vào loại văn học đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn.
Phần lớn nội dung tục ngữ đều là những kinh nghiệm rút ra từ việc quan sát và thể nghiệm các hiện tượng xảy ra trong đời sống thực tiễn. Trước đây, khi khoa học chưa phát triển, thì quá trình lao động sản xuất của tổ tiên ta là nhằm cải tạo thiên nhiên, biến đổi thiên nhiên để phục vụ cho cuộc sống con người, nên cũng chính vì thế mà cha ông chúng ta cũng cần phải có những hiểu biết nhất định về những quy luật biến đổi của tự nhiên. Những kinh nghiệm ấy được thông qua tập thể, được đúc kết bằng các câu có vần, dễ nhớ, dễ thuộc và phổ biến rỗng rãi. Nội dung mà những câu tục ngữ đề cập đến là rất rộng, bao gồm mọi mặt của đời sống xã hội.
Đó có thể là những câu tục ngữ dự báo thời tiết, về cày cấy, về trồng trọt hay giải thích khuyên răn theo một lý luận nào đó. Tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng đanh thép, sắc bén, rút ra từ cuộc đời. Như tác giả Vũ Ngọc Phan trong “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” đã viết: “Những nhận xét, những kinh nghiệm trên này cũng không thể một ngày mà có, phải sau một thời gian nào đó mới ổn định thành một thứ phương châm. Có những câu tục ngữ chỉ có một nghĩa ở địa phương, nhưng lại có những câu được truyền rộng rãi trong xã hội.
Đó là đặc điểm của tục ngữ; nội dung của nó khác với ca dao và dân ca, hầu hết đều là những bài do cảm xúc mà có” .