Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu (mã số 9222024) của nghiên cứu sinh Phạm Thị Xuân Hà, với đề tài "Đối chiếu ẩn dụ ý niệm cái chết trên ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh", được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Hùng Việt và TS. Trịnh Thị Hà (Hà Nội, 2023).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong đời sống nhân loại, "cái chết" là một phạm trù mang tính phổ quát, trừu tượng và gắn liền với các yếu tố tâm lý kiêng kỵ, e ngại của con người. Để biểu đạt phạm trù này, ngôn ngữ thường vận dụng các phương thức biểu đạt gián tiếp thông qua các biểu thức ẩn dụ và uyển ngữ nhằm làm giảm nhẹ cảm xúc tiêu cực. Dưới lăng kính của ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ không thuần túy là một biện pháp tu từ học hay trang sức ngôn từ trong văn chương, mà là một cơ chế tư duy phản ánh cách con người tri nhận thế giới thông qua vốn sống và trải nghiệm thân thể. Tuy nhiên, các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận cái chết ở góc độ danh học, ngữ nghĩa học truyền thống, phân tích ca từ nghệ thuật hoặc khảo sát uyển ngữ đơn lẻ. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là chưa có công trình nào đối chiếu một cách toàn diện và có hệ thống hệ thống ẩn dụ ý niệm về "cái chết" giữa tiếng Việt và tiếng Anh trên khối ngữ liệu diễn ngôn đời thường mang tính tưởng nhớ, giãi bày cảm xúc thực tế của người còn sống.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định hai mục đích nghiên cứu chính:

  1. Làm rõ các loại ẩn dụ ý niệm về cái chết trong tiếng Việt và tiếng Anh dựa trên khung lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận.
  2. Tiến hành đối chiếu để chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt của hệ thống ẩn dụ ý niệm về cái chết trong hai ngôn ngữ, từ đó lý giải các hiện tượng dựa trên mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy.

Để hiện thực hóa hai mục đích trên, luận án triển khai bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Nhiệm vụ 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm cái chết trên thế giới và ở Việt Nam nhằm xác lập khoảng trống khoa học của đề tài.
  • Nhiệm vụ 2: Hệ thống hóa các nội dung lý luận về ẩn dụ ý niệm, ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học đối chiếu cùng các tri thức liên ngành (sinh học, triết học, tâm lý học, tôn giáo) làm nền tảng cho việc phân tích.
  • Nhiệm vụ 3: Nhận diện và xác lập các biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ý niệm về "cái chết" trong các diễn ngôn tiếng Việt và tiếng Anh; phân tích cơ chế ánh xạ từ các miền nguồn cụ thể vào miền đích trừu tượng.
  • Nhiệm vụ 4: Phân tích, so sánh, đối chiếu đặc điểm trong các biểu thức ẩn dụ ý niệm chỉ "cái chết" ở hai ngôn ngữ, xác định tính tương hòa văn hóa và sự tương hợp ẩn dụ nhằm lý giải điểm tương đồng, dị biệt và khẳng định mối quan hệ giữa ngôn ngữ với văn hóa và tư duy.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các biểu thức ngôn ngữ chứa ẩn dụ ý niệm về "cái chết" trong tiếng Việt và tiếng Anh, tập trung khảo sát các miền nguồn thông dụng và cơ chế ánh xạ từ miền nguồn sang miền đích "cái chết".
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát các diễn ngôn chia sẻ về cảm xúc, nỗi buồn, niềm tin và sự an ủi đối với sự mất mát người thân hoặc tâm sự của người đối diện với bệnh tật hiểm nghèo. Thời gian thu thập ngữ liệu được giới hạn từ ngày 01/01/2019 đến ngày 31/07/2022. Luận án không thu thập các diễn ngôn đề cập đến cái chết của các đối tượng gây bức xúc, phẫn nộ trong xã hội.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Ở phạm vi quốc tế, việc nghiên cứu ý niệm cái chết qua lăng kính ngôn ngữ học tri nhận đã được nhiều học giả triển khai:

  • George Lakoff và Mark Turner (1989) trong tác phẩm More than cool reason: A Field Guide to Poetic Metaphor đã phân tích các ẩn dụ ý niệm về cái chết trong thi ca như: CÁI CHẾT LÀ SỰ KHỞI HÀNH, CÁI CHẾT LÀ ĐẾN ĐÍCH, CÁI CHẾT LÀ BÓNG ĐÊM, CÁI CHẾT LÀ MÙA ĐÔNG, CÁI CHẾT LÀ GIAI ĐOẠN TÀN LỤI CỦA CÂY, CÁI CHẾT LÀ GIẤC NGỦ / SỰ NGHỈ NGƠI, CÁI CHẾT LÀ SỰ THẤT THOÁT CHẤT LỎNG TRONG BẦU CHỨA, CÁI CHẾT LÀ SỰ GIẢI THOÁT.
  • Juana Marín-Arrese (1996) khảo sát đối chiếu ẩn dụ cái chết giữa tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha (To die, to sleep – A Contrastive metaphors for Death and Dying in English and Spanish), giải thích cơ chế hình thành miền nguồn từ kinh nghiệm nghiệm thân, trải nghiệm sinh lý, nhân hóa và tín ngưỡng tôn giáo.
  • Bert Bultinck (1998) trong Metaphors We Die by đã khảo sát ngữ liệu từ điển tiếng Anh và thiết lập hệ thống 10 nhóm ẩn dụ ý niệm về cái chết (phản ứng sinh lý, dịch chuyển, dịch chuyển có định hướng, nghỉ ngơi - giấc ngủ, mất mát, đầu hàng, cảm xúc, mất ánh sáng, nhân hóa, điển tích).
  • Eliecer Crespo Fernández (2006) nghiên cứu về uyển ngữ và điều kiêng kỵ trong ngôn ngữ tiếng Anh.
  • Các công trình chuyên biệt theo bối cảnh hoặc ngôn ngữ cụ thể: Adriaan L. (2011) nghiên cứu tri nhận không gian và ẩn dụ cái chết trong Kinh thánh Do Thái; Zsófia D. khảo sát ẩn dụ cái chết từ góc nhìn nhân viên y tế; Anashia N. (2018) phân tích uyển ngữ cái chết trong cáo phó báo chí Kenya; Moses Gatambuki Gathigia (2017) khảo sát tiếng Gĩkũyũ; Danijel Berković (2016) nghiên cứu ngữ pháp cái chết trong Thánh thi; Damaris G. (2012) phân tích ẩn dụ hành trình và nghỉ ngơi trong tiếng EkeGusii; Charles O. (2020) đối chiếu ẩn dụ và uyển ngữ trong tiếng Akan và tiếng Do Thái; Moses G. và cộng sự (2018) nghiên cứu xuyên ngôn ngữ trên 6 thứ tiếng (Trung, Ba Tư, Gĩkũyũ, Nga, Tây Ban Nha, Thụy Điển); Cong T. (2014) đối chiếu ẩn dụ cái chết giữa tiếng Anh và tiếng Trung Quốc; Mari A. (2014) khảo sát điếu văn Anh - Anh và Anh - Mỹ.

Các hướng nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến phạm trù cái chết được tiếp cận dưới nhiều phân ngành:

  • Về phương diện danh học và ngữ nghĩa học: Nguyễn Đức Tồn và Huỳnh Thị Thanh Trà (1994) phân tích các phương thức định danh sự kết thúc cuộc đời con người dựa trên nguồn gốc từ ngữ, kiểu ngữ nghĩa (trực tiếp - gián tiếp, trong đó định danh gián tiếp chiếm khoảng 55%) và cách thức biểu thị, đồng thời phân tích các thành tố ngữ nghĩa và nhân tố tôn giáo chi phối việc dùng từ.
  • Về phương diện ngôn ngữ học xã hội và uyển ngữ: Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2015), Đào Thị Kim Duyên (2015) khảo sát các từ kiêng kỵ, uyển ngữ chỉ cái chết trong tiếng Việt và đối chiếu bước đầu với tiếng Khmer, Thái, Hán, Anh dưới ảnh hưởng của tâm lý lo sợ và trải nghiệm văn hóa.
  • Về phương diện ngôn ngữ học tri nhận và văn hóa: Lê Thị Kiều Vân (2017) phân tích tâm thức người Việt qua từ khóa "thể xác" và "hồn", đối chiếu với "soul" trong tiếng Anh để làm rõ cấu trúc nhị nguyên xác - hồn; Nguyễn Thị Bích Hạnh (2015) khảo sát 227 ca khúc của Trịnh Công Sơn, chỉ ra các mô hình ẩn dụ cấu trúc (CON NGƯỜI LÀ CÂY CỎ, ĐỜI NGƯỜI LÀ MỘT NGÀY, CUỘC ĐỜI LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH) và ẩn dụ định hướng (BỆNH TẬT VÀ CÁI CHẾT ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy các nghiên cứu trong nước chưa có công trình nào khảo sát toàn diện cả 3 tiểu loại ẩn dụ (cấu trúc, bản thể, định hướng) về phạm trù cái chết trên khối ngữ liệu diễn ngôn đời thường; đồng thời chưa có công trình đối chiếu song song chuyên sâu giữa tiếng Việt và tiếng Anh để làm rõ sự tương đồng, dị biệt và cơ chế tương hợp ẩn dụ gắn với các nền tảng tri thức liên ngành (văn hóa, tôn giáo, triết học, tâm lý học và sinh học).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên ba trụ cột lý thuyết chính:

  1. Lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận về ẩn dụ ý niệm: Vận dụng lý thuyết của George Lakoff và Mark Johnson (1980, 2003), Zoltán Kövecses (2002, 2005, 2006) và Gilles Fauconnier (1997). Luận án xác định ẩn dụ ý niệm là sự ánh xạ có hệ thống từ miền nguồn sang miền đích nhằm lĩnh hội miền trừu tượng thông qua miền cụ thể. Luận án quán triệt các khái niệm: phạm trù và phạm trù hóa (Eleanor Rosch, Lakoff 1982); ý niệm và ý niệm hóa (Trần Văn Cơ 2007, 2009; Lý Toàn Thắng 2004, 2015; Nguyễn Thiện Giáp 2014); tính nghiệm thân (embodiment - Lakoff, Tim Rohrer); nguyên lý "Dĩ nhân vi trung" và cặp nhị nguyên thể xác - linh hồn; 7 đặc điểm của ẩn dụ ý niệm (tính đơn hướng, tính che giấu và nhấn mạnh, tính hệ thống, tính tầng bậc, tính phổ quát, tính biến thiên văn hóa, tính tương hòa văn hóa); 2 nền tảng hình thành ẩn dụ (sự tương liên về kinh nghiệm và sự tương đồng cấu trúc được cảm nhận); lược đồ hình ảnh (image schema); phân loại ẩn dụ theo chức năng nhận thức thành 3 nhóm (ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ định hướng); và hiện tượng tương hợp trong ẩn dụ.
  2. Cơ sở ngôn ngữ học xã hội về uyển ngữ và điều kiêng kỵ: Kế thừa quan điểm của Nguyễn Văn Khang (2014), Hoàng Phê (2018), Keith Allan và Kate Burridge về mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tâm lý mê tín, tôn giáo và sự kiêng kỵ (taboo), dẫn đến nhu cầu sử dụng uyển ngữ để giảm nhẹ nỗi sợ hãi về cái chết theo lý thuyết kiểm soát nỗi sợ hãi.
  3. Cơ sở ngôn ngữ học đối chiếu: Tiếp cận theo khung lý luận của Bùi Mạnh Hùng (2008) và Tomasz P. Krzeszowski (1990), xác lập cơ sở so sánh chung (tertium comparationis - TC) trên bình diện từ vựng (các dụ dẫn) ở cấp độ vĩ mô, khảo sát đồng đại theo phương thức đối chiếu hai chiều.
  4. Tri thức liên ngành: Sử dụng tri thức sinh học (biến đổi cơ thể sau khi chết), triết học phương Đông - phương Tây, tâm lý học và tôn giáo - tín ngưỡng để luận giải nguyên nhân tạo lập các mô hình ẩn dụ.
+-------------------------------------------------------------------------+
|                  KHUNG PHÂN TÍCH VÀ ĐỐI CHIẾU CỦA LUẬN ÁN               |
+------------------------------------+------------------------------------+
|         TIẾNG VIỆT (490 diễn ngôn) | TIẾNG ANH (506 diễn ngôn)          |
+------------------------------------+------------------------------------+
| 1. Nhận diện biểu thức ẩn dụ theo quy trình MIP (Pragglejaz, 2007)      |
| 2. Phân loại theo chức năng tri nhận (Lakoff & Johnson, Kövecses):      |
|    - Ẩn dụ Cấu trúc: Hành trình, Nghỉ ngơi, Trạng thái ánh sáng,        |
|      Sự kết thúc                                                        |
|    - Ẩn dụ Bản thể: Thực thể, Vật chứa, Nhân hóa (Kẻ cướp)              |
|    - Ẩn dụ Định hướng: Lên - Xuống, Cao - Thấp, Ra - Vào                |
| 3. Xác lập sơ đồ ánh xạ miền nguồn -> miền đích "Cái chết"              |
| 4. Đối chiếu song song 2 chiều (Tertium Comparationis)                  |
| 5. Giải thích nguyên nhân liên ngành: Sinh học, Triết học, Tâm lý học,   |
|    Tín ngưỡng - Tôn giáo, Văn hóa - Xã hội                              |
+-------------------------------------------------------------------------+

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp miêu tả: Dùng để miêu tả các mô hình ẩn dụ, cơ chế ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích, miêu tả sự chồng lấn, tương hợp giữa các ẩn dụ và phân tích tính dụng học của ẩn dụ trong ngữ cảnh thực tế.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: Tiến hành đối chiếu hai chiều giữa tiếng Việt và tiếng Anh để xác định những điểm tương đồng và dị biệt trong việc sử dụng các tiểu loại ẩn dụ và các biểu thức ngôn ngữ biểu đạt cái chết.
  • Cách tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức ngôn ngữ học với sinh học, giải phẫu học, tâm lý học, triết học và văn hóa - tôn giáo để giải mã các hiện tượng tri nhận.
  • Thủ pháp thống kê, phân loại: Thống kê tần suất xuất hiện của các dụ dẫn, phân nhóm theo miền nguồn, lập bảng số liệu định lượng làm căn cứ so sánh.

Quy trình nhận diện và xử lý ngữ liệu

Luận án áp dụng quy trình nhận diện ẩn dụ MIP (Metaphor Identification Procedure) do nhóm Pragglejaz (2007) đề xuất, gồm 4 bước:

  1. Đọc toàn bộ văn bản diễn ngôn để nắm bắt ngữ cảnh chung.
  2. Xác định các đơn vị từ vựng trong văn bản.
  3. Xác định nghĩa ngữ cảnh, xác định nghĩa cơ bản (cụ thể hơn, gắn với cơ thể, có lịch sử lâu đời hơn) và so sánh để tìm sự xung đột/tương phản ngữ nghĩa.
  4. Đánh dấu đơn vị từ vựng là ẩn dụ nếu có sự tương phản ngữ nghĩa nhưng hiểu được qua sự so sánh.

Ngữ liệu sau khi thu thập được xử lý qua 2 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: Nhận diện, gán nhãn ẩn dụ, xác định các thuộc tính của miền nguồn và miền đích, lập sơ đồ ánh xạ, phân loại vào 3 nhóm (cấu trúc, bản thể, định hướng).
  • Giai đoạn 2: Tiến hành đối chiếu song song giữa hai khối ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh, làm rõ tính tương hòa văn hóa và sự tương hợp ẩn dụ theo lý thuyết đối chiếu.

Nguồn tư liệu và ngữ liệu nghiên cứu

Ngữ liệu được thu thập trong giai đoạn từ tháng 1/2019 đến tháng 7/2022 trên các trang thông tin điện tử uy tín, mang tính chất đời thường, phi nghệ thuật:

Tiêu chí Ngữ liệu Tiếng Việt Ngữ liệu Tiếng Anh
Nguồn ngữ liệu Chuyên mục "Tâm sự", "Tưởng nhớ nạn nhân Covid-19" (vnexpress.net); "Nhân ái", "Sức khỏe" (dantri.vn) và một số trang mạng chính thống khác Chuyên mục "Personal stories" trên hopeagain.com, cancerresearchuk.org và các trang tin tức có uy tín của Anh
Số lượng diễn ngôn 490 diễn ngôn 506 diễn ngôn
Số biểu thức ẩn dụ (BTAD) 529 biểu thức ẩn dụ 525 biểu thức ẩn dụ
Quy cách mã hóa Ký hiệu từ V1 đến V490 Ký hiệu từ A1 đến A506 (kèm bản dịch thô tiếng Việt trong ngoặc vuông)
Đặc điểm diễn ngôn Diễn ngôn chia sẻ cảm xúc đau buồn, tưởng nhớ người thân qua đời do rủi ro, bệnh tật Diễn ngôn chia sẻ cảm xúc đau buồn, tưởng nhớ người thân qua đời do rủi ro, bệnh tật

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm cái chết tại nước ngoài và Việt Nam; xây dựng nền tảng lý luận ngôn ngữ học (ngôn ngữ học tri nhận, ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học đối chiếu) và các góc nhìn khoa học liên ngành.

Luận án làm rõ cơ chế ánh xạ từ miền nguồn sang miền đích, nêu bật tính chất bất biến và tính đơn hướng của ánh xạ. Các cơ sở khoa học liên ngành được xác lập cụ thể:

  • Góc nhìn sinh học và giải phẫu: Khái quát các biến đổi vật lý của cơ thể khi chết (ngừng tuần hoàn, hô hấp, mất nhiệt, cứng đơ, biến đổi sắc tố) làm cơ sở vật chất cho các lược đồ hình ảnh và ẩn dụ nghiệm thân.
  • Góc nhìn triết học phương Đông - phương Tây: Phân tích sự khác biệt giữa tư duy chỉnh thể, tuần hoàn, hòa nhập tự nhiên của phương Đông với tư duy phân tích, nhị nguyên của phương Tây.
  • Góc nhìn tâm lý học: Sử dụng thuyết quản trị nỗi sợ hãi để giải thích hành vi né tránh nói trực tiếp về cái chết và xu hướng chọn các biểu thức nhẹ nhàng.
  • Góc nhìn tín ngưỡng, tôn giáo: Làm rõ ảnh hưởng của thuyết luân hồi, nghiệp báo (Phật giáo), quan niệm về thế giới bên kia, luyện ngục, thiên đàng (Thiên Chúa giáo), và tục thờ cúng tổ tiên, Đạo giáo tại Việt Nam đối với việc cấu trúc hóa đích đến của người chết.

CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ CẤU TRÚC CÓ MIỀN ĐÍCH “CÁI CHẾT” TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

Chương 2 tập trung khảo sát, miêu tả và đối chiếu 4 mô hình ẩn dụ cấu trúc chính xuất hiện trong hai khối ngữ liệu:

1. Ẩn dụ cấu trúc "CÁI CHẾT LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH"

Đây là mô hình ẩn dụ phổ biến nhất ở cả hai ngôn ngữ. Người chết được ánh xạ thành người lữ hành, hành động chết là sự khởi hành lên đường, và thế giới bên kia là đích đến.

  • Trong tiếng Việt: Kích hoạt các thuộc tính khởi hành (ra đi, đi, bước sang thế giới bên kia), tiễn đưa (tiễn mẹ đoạn đường cuối cùng), đích đến gắn với tín ngưỡng bản địa, Phật giáo (về với tổ tiên, về với ông bà, sang thế giới bên kia, về cõi Phật, xuống suối vàng).
  • Trong tiếng Anh: Kích hoạt các thuộc tính rời đi (pass away, pass on, depart, left us, gone), cuộc hành trình dài (journey to eternity, final journey), đích đến gắn với thế giới quan Kitô giáo (go to heaven, in God's hands, with the angels).
  • Sơ đồ ánh xạ mẫu của ẩn dụ CÁI CHẾT LÀ SỰ KHỞI HÀNH:
Thuộc tính Miền nguồn (SỰ KHỞI HÀNH) Thuộc tính Miền đích (CÁI CHẾT)
Tạm biệt, chào hỏi, chuẩn bị trước khi lên đường Gặp mặt người sắp qua đời lần cuối cùng
Đưa tiễn người đi lên đường Nghi thức tang lễ, đưa tang đến nơi an táng
Nhắn nhủ, gửi gắm thông tin giữa người đi và người ở Lời trăn trối, phân ưu, tiễn biệt người đã khuất
Phương tiện chuyển động / Hành động xuất phát, đi lại Hành vi qua đời, di dời thi hài đến nơi mai táng

2. Ẩn dụ cấu trúc "CÁI CHẾT LÀ SỰ NGHỈ NGƠI"

Mô hình này dựa trên sự tương đồng trực giác giữa trạng thái bất động, nhắm mắt khi ngủ với tư thế của thi thể người chết.

  • Trong tiếng Việt: Thể hiện qua các biểu thức: yên nghỉ, an nghỉ, nhắm mắt xuôi tay, ngủ yên, giấc ngủ ngàn thu. Miền nguồn kích hoạt sự chấm dứt những gánh nặng, lo toan của kiếp nhân sinh.
  • Trong tiếng Anh: Thể hiện qua các biểu thức: rest in peace (RIP), fall asleep, eternal sleep, peaceful rest, at rest. Cả hai ngôn ngữ đều có sự trùng khớp cao về mặt lược đồ hình ảnh nghiệm thân.

3. Ẩn dụ cấu trúc "CÁI CHẾT LÀ TRẠNG THÁI ÁNH SÁNG"

  • Trong tiếng Việt: Kích hoạt ý niệm ánh sáng tắt dần, biểu thị sự lụi tàn của sinh mệnh (tắt thở, nhắm mắt xuôi tay, ngọn đèn cạn dầu, bóng tối bao trùm).
  • Trong tiếng Anh: Kích hoạt thuộc tính bóng tối lấn át ánh sáng, sự vụt tắt (light goes out, darkness, fade away into the dark).

4. Ẩn dụ cấu trúc "CÁI CHẾT LÀ SỰ KẾT THÚC"

  • Trong tiếng Việt: Cái chết được cấu trúc như việc hoàn tất một chu kỳ, hết thời hạn (hết đời, tận số, chấm dứt cuộc đời, kết thúc một kiếp người).
  • Trong tiếng Anh: Thể hiện qua các biểu thức chỉ sự kết thúc chặng đường, hoàn thành nhiệm vụ (end of life, time has come, chapter closed).

Chương 2 tổng kết ma trận đối chiếu, lược đồ ánh xạ và sơ đồ tầng bậc của các tiểu loại ẩn dụ cấu trúc, chỉ ra tính tương đồng về cơ chế nhận thức nhưng có sự phân hóa trong việc lựa chọn từ vựng biểu đạt do ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo và văn hóa.


CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ BẢN THỂ CÓ MIỀN ĐÍCH “CÁI CHẾT” TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

Chương 3 khảo sát các ẩn dụ bản thể nhằm vật thể hóa phạm trù trừu tượng "cái chết" thành các đối tượng vật lý có ranh giới:

1. Ẩn dụ thực thể (Entity Metaphor)

Cái chết được ý niệm hóa như một thực thể hữu hình, một món đồ, một sự mất mát tài sản hay một biến cố có thể định lượng:

  • Trong tiếng Việt: Sử dụng các biểu thức chỉ sự mất mát, rơi rụng (mất mát, đánh mất người thân, cướp đi sinh mạng, trút bỏ thân xác).
  • Trong tiếng Anh: Sử dụng các biểu thức chỉ sự tước đoạt, vật thể hóa (loss of someone, lose the battle, take a life).

2. Ẩn dụ vật chứa (Container Metaphor)

Trạng thái sống và chết được ý niệm hóa như việc ở trong hoặc bước ra khỏi một vật chứa không gian:

  • Trong tiếng Việt: Cơ thể được xem là vật chứa của linh hồn; cõi chết là một không gian bao bọc (nằm trong lòng đất mẹ, bước vào cõi vĩnh hằng, thoát khỏi thân xác).
  • Trong tiếng Anh: Các biểu thức diễn tả trạng thái rơi vào, nằm trong không gian kín (in a better place, into the void, trapped in illness).

3. Nhân hóa trong diễn ngôn về ý niệm "cái chết" (Ẩn dụ "CÁI CHẾT LÀ KẺ CƯỚP")

Nhân hóa là tiểu loại đặc thù của ẩn dụ bản thể, trong đó cái chết mang hành vi và động cơ của con người:

  • Cả tiếng Việt và tiếng Anh đều kích hoạt mạnh mẽ mô hình ẩn dụ CÁI CHẾT LÀ KẺ CƯỚP / KẺ THÙ.
  • Trong tiếng Việt: Cái chết được miêu tả như kẻ độc ác tước đoạt sinh mạng người thân (cơn bão bệnh tật cướp mất cha, tử thần giành giật, số phận nghiệt ngã mang mẹ đi).
  • Trong tiếng Anh: Cái chết xuất hiện dưới dạng kẻ cướp, kẻ chiến bại hoặc thần chết (cancer stole him away, death took her from us, fighting against death).

Chương 3 thống kê chi tiết tần suất xuất hiện của các tiểu loại ẩn dụ thực thể, vật chứa và nhân hóa, đồng thời xây dựng sơ đồ tầng bậc của ẩn dụ bản thể trong diễn ngôn hai ngôn ngữ.


CHƯƠNG 4: ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ ĐỊNH HƯỚNG VỀ “CÁI CHẾT” TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

Chương 4 khảo sát các ẩn dụ định hướng không gian dựa trên trải nghiệm thể chất và văn hóa:

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  CÁC TRỤC KHÔNG GIAN ĐỊNH HƯỚNG Ý NIỆM CÁI CHẾT         |
+------------------------------------+------------------------------------+
| TRỤC KHÔNG GIAN                    | BIỂU HIỆN NGÔN NGỮ ĐỐI CHIẾU       |
+------------------------------------+------------------------------------+
| 1. LÊN - XUỐNG                     | - Hướng Xuống: nằm xuống, ngã      |
|    (Up - Down)                     |   xuống, pass down, fall, drop     |
|                                    | - Hướng Lên: lên thiên đàng, về    |
|                                    |   trời, go up to heaven            |
+------------------------------------+------------------------------------+
| 2. CAO - THẤP                      | - Gắn với vị thế linh hồn (trên    |
|    (High - Low)                    |   cao) và thể xác nơi huyệt mộ     |
|                                    |   (dưới thấp/suối vàng)            |
+------------------------------------+------------------------------------+
| 3. RA - VÀO                        | - TV: ra đi, lìa đời, bước ra      |
|    (In - Out)                      | - TA: pass out, depart from life,  |
|                                    |   into the next world              |
+------------------------------------+------------------------------------+
  • Cặp không gian Lên – Xuống:
    • Không gian hướng Xuống (Down): Xuất phát từ trải nghiệm nghiệm thân khi con người chết cơ thể đổ gục, nằm xuống đất và được chôn cất dưới lòng đất (nằm xuống, ngã xuống, buông xuôi; fall, drop, put down into the grave).
    • Không gian hướng Lên (Up): Gắn với niềm tin tôn giáo về sự siêu thoát của linh hồn bay lên các cõi trời, cõi Niết Bàn hay Thiên Đàng (lên trời, quy tiên, lên thiên đàng; go up to heaven).
  • Cặp không gian Cao – Thấp: Thể hiện sự phân tầng giữa thế giới trần tục (thấp) và thế giới thần linh/tổ tiên (cao), hoặc nơi an nghỉ dưới mộ sâu (thấp).
  • Cặp không gian Ra – Vào: Thể hiện ranh giới chuyển dịch giữa các trạng thái tồn tại. Ý niệm chết thường gắn với hướng "Ra" khỏi cuộc đời thực tại (ra đi, rời khỏi cõi đời; exit, step out of life) và "Vào" thế giới vĩnh hằng (bước vào cõi vĩnh hằng; enter eternal life).

Chương 4 hoàn thiện bảng ma trận đối chiếu toàn diện về các chiều kích không gian của ẩn dụ ý niệm cái chết giữa hai ngôn ngữ.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án củng cố các luận điểm nền tảng của ngôn ngữ học tri nhận, chứng minh tính phổ quát của ẩn dụ ý niệm thông qua việc chỉ ra các mô hình tư duy chung của con người (như xem cái chết là cuộc hành trình, sự nghỉ ngơi, kẻ cướp hay sự dịch chuyển hướng xuống) hình thành từ trải nghiệm nghiệm thân.
  2. Luận giải sâu sắc hiện tượng tương hợp và chồng lấn trong ẩn dụ ý niệm khi khảo sát một miền đích phức tạp mang tính kiêng kỵ như "cái chết", nơi nhiều miền nguồn cùng tham gia cấu trúc hóa và bổ sung ý nghĩa cho nhau.
  3. Làm rõ tính biến thiên văn hóa và tính tương hòa văn hóa của ẩn dụ ý niệm; chứng minh ngôn ngữ phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan, tập tục xã hội và niềm tin tôn giáo của mỗi cộng đồng dân tộc.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp một khối ngữ liệu song ngữ phong phú (gồm 490 diễn ngôn tiếng Việt và 506 diễn ngôn tiếng Anh với hơn 1.050 biểu thức ẩn dụ) được xử lý, mã hóa và phân loại hệ thống theo chuẩn quy trình MIP.
  2. Kết quả nghiên cứu hỗ trợ trực tiếp cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, giảng viên giảng dạy tiếng Anh và tiếng Việt trong việc biên soạn giáo trình, bài giảng về giao tiếp giao văn hóa.
  3. Hỗ trợ thiết thực cho công tác biên dịch và phiên dịch song ngữ Anh - Việt trong việc xử lý các diễn ngôn nhạy cảm, giàu tính văn hóa và uyển ngữ; đồng thời gợi mở dữ liệu hữu ích cho các ứng dụng công nghệ ngôn ngữ và xử lý ngôn ngữ tự nhiên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát trong các diễn ngôn đời thường mang tính chất chia sẻ, tưởng nhớ cá nhân trên báo điện tử trong khung thời gian 2019 - 2022; chưa mở rộng sang các phong cách chức năng khác như văn bản pháp lý, văn bản tôn giáo cổ điển hay tác phẩm văn học nghệ thuật; đồng thời loại trừ ngữ liệu về cái chết của các đối tượng gây bức xúc xã hội.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đối chiếu ẩn dụ ý niệm cái chết sang các thể loại diễn ngôn khác (diễn ngôn báo chí chính trị, cáo phó truyền thống, diễn ngôn y khoa lâm sàng); hoặc mở rộng sang các phạm trù văn hóa kiêng kỵ khác (bệnh tật, tình dục, nghèo đói) giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ khác trong khu vực và trên thế giới.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Ngôn ngữ học: Cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh về nhận diện và đối chiếu ẩn dụ ý niệm theo chuẩn quy trình MIP của nhóm Pragglejaz.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu giao tiếp liên văn hóa: Cung cấp các phân tích về sự tương đồng và dị biệt trong tư duy biểu đạt giữa văn hóa phương Đông (Việt Nam) và phương Tây (Anh).
  • Biên dịch viên và phiên dịch viên: Giúp nắm bắt hệ thống tương đương của các biểu thức uyển ngữ chỉ cái chết để chuyển dịch tự nhiên, phù hợp với thuần phong mỹ tục và ngữ cảnh giao tiếp.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng phương pháp và quy trình nào để nhận diện biểu thức ẩn dụ trong văn bản?
Luận án sử dụng quy trình nhận diện ẩn dụ MIP (Metaphor Identification Procedure) do nhóm Pragglejaz (2007) đề xuất gồm 4 bước: đọc hiểu toàn bộ diễn ngôn, xác định đơn vị từ vựng, đối chiếu nghĩa ngữ cảnh với nghĩa cơ bản mang tính nghiệm thân để tìm xung đột ngữ nghĩa, và đánh dấu đơn vị ẩn dụ.

2. Quy mô ngữ liệu khảo sát của luận án là bao nhiêu và được lấy từ những nguồn nào?
Ngữ liệu gồm 490 diễn ngôn tiếng Việt (529 biểu thức ẩn dụ, mã hóa V1-V490) thu thập từ vnexpress.net, dantri.vn; và 506 diễn ngôn tiếng Anh (525 biểu thức ẩn dụ, mã hóa A1-A506) thu thập từ hopeagain.com, cancerresearchuk.org trong giai đoạn từ 01/01/2019 đến 31/07/2022.

3. Hệ thống ẩn dụ ý niệm về cái chết được phân loại thành những nhóm chính nào?
Dựa trên chức năng tri nhận, hệ thống ẩn dụ được chia thành 3 nhóm: Ẩn dụ cấu trúc (hành trình, nghỉ ngơi, trạng thái ánh sáng, sự kết thúc); Ẩn dụ bản thể (thực thể, vật chứa, nhân hóa - kẻ cướp); và Ẩn dụ định hướng (lên - xuống, cao - thấp, ra - vào).

4. Yếu tố văn hóa và tôn giáo tạo ra sự khác biệt gì trong ẩn dụ "CÁI CHẾT LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH"?
Tuy cùng xem cái chết là sự di chuyển lên đường, người Việt chịu ảnh hưởng của Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nên định vị đích đến là về với ông bà, suối vàng, cõi Phật; trong khi người Anh chịu ảnh hưởng của Kitô giáo nên định vị đích đến là heaven (thiên đàng), in God's hands (nơi tay Chúa).

5. Vì sao ẩn dụ định hướng cái chết lại có cả hai hướng "Lên" và "Xuống"?
Hướng "Xuống" xuất phát từ trải nghiệm nghiệm thân vật lý khi cơ thể mất đi sự sống sẽ gục xuống và được chôn dưới lòng đất; trong khi hướng "Lên" xuất phát từ niềm tin tinh thần và tôn giáo về linh hồn thanh thoát bay lên trời cao, cõi vĩnh hằng.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Phạm Thị Xuân Hà là công trình nghiên cứu đối chiếu có hệ thống về ẩn dụ ý niệm cái chết giữa tiếng Việt và tiếng Anh dựa trên lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận và ngữ liệu diễn ngôn đời thường. Công trình đã làm rõ cơ chế ánh xạ của các tiểu loại ẩn dụ cấu trúc, bản thể và định hướng, đồng thời xây dựng các ma trận đối chiếu làm nổi bật những nét tương đồng mang tính phổ quát và những nét dị biệt mang đậm dấu ấn văn hóa, tôn giáo của hai dân tộc. Kết quả nghiên cứu đóng góp thiết thực cho sự phát triển của ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu tại Việt Nam và cung cấp tư liệu tham khảo cho hoạt động giảng dạy, dịch thuật và nghiên cứu văn hóa ngôn ngữ.