chương 1 “Life, Death, and Time” (Sự sống, Cái chết và Thời gian) để liệt kê và phân tích các ẩn dụ ý niệm về phạm trù sự sống, cái chết và thời gian trên ngữ liệu là một số tác phẩm văn thơ của Dickinson, T. Eliot, Dylan Thomas, Fitzgerald, … Những ẩn dụ ý niệm về “cái chết” được gọi tên bao gồm CÁI CHẾT LÀ SỰ KHỞI HÀNH, CÁI CHẾT LÀ ĐẾN ĐÍCH xuất phát từ ẩn dụ ĐỜI NGƯỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH, CÁI CHẾT LÀ BÓNG ĐÊM, CÁI CHẾT LÀ MÙA ĐÔNG xuất phát từ ẩn dụ ĐỜI NGƯỜI LÀ MỘT NGÀY / MỘT NĂM, CÁI CHẾT LÀ GIAI ĐOẠN TÀI LỤI CỦA CÂY xuất phát từ ẩn dụ ĐỜI NGƯỜI LÀ CÂY, CÁI CHẾT LÀ GIẤC NGỦ, CÁI CHẾT LÀ SỰ NGHỈ NGƠI xuất phát từ sự tương đồng về hình ảnh giữa người ngủ / người nghỉ ngơi với người chết, CÁI CHẾT LÀ SỰ THẤT THOÁT CHẤT LỎNG TRONG BẦU CHỨA xuất phát từ ẩn dụ SỰ SỐNG LÀ CHẤT LỎNG TRONG CƠ THỂ, CÁI CHẾT LÀ SỰ GIẢI THOÁT xuất phát từ ẩn dụ CUỘC SỐNG LÀ SỰ TRÓI BUỘC (Cơ thể người là vật chứa “giam cầm linh hồn”, sự kiện “cái chết” đem lại sự “phóng thích” cho linh hồn khỏi “nhà tù” thể xác). Ở bài viết “To die, to sleep – A Contrastive metaphors for Death and Dying in English and Spanish”, Juana Marín-Arrese (1996) [57] lại tiếp cận hướng phân tích ẩn dụ ý niệm cái chết qua việc giải thích lý do sử dụng các miền nguồn là từ các kinh nghiệm nghiệm thân và kinh nghiệm xã hội của con người, chẳng hạn như các yếu tố sinh lý và trải nghiệm cơ thể, sự liên tưởng, nhân hóa “cái chết” với con người hoặc động vật nguy hiểm, yếu tố tôn giáo và niềm tin, các 11 yếu tố xã hội và thực hành văn hóa ở từng cộng đồng cụ thể. Nghiên cứu cũng nhóm các diễn đạt chỉ ý niệm “cái chết” theo trải nghiệm nghiệm thân về các miền không gian như vật chứa, đường đi, định hướng lên – xuống hay chiết đoạn thời gian.
Cũng từ cách tiếp cận ngôn ngữ học tri nhận, Bultinck, B. (1998) [51] đã thực hiện nghiên cứu “Metaphors We Die by: Conceptualizations of death in English and their implications for the theory of Metaphor” (Tạm dịch: Chúng ta Chết bằng ẩn dụ: ý niệm hóa cái chết trong tiếng Anh và các hàm ý của nó theo lý thuyết ẩn dụ), trong đó ông khảo sát các cách diễn đạt ẩn dụ về cái chết trên ngữ liệu là các từ điển tiếng Anh. Ông đã đưa ra kết luận rằng, nhìn chung, các ẩn dụ ngôn ngữ về ý niệm cái chết có thể phân chia thành các ẩn dụ ý niệm sau: (1) Cái chết là các phản ứng sinh – lý liên quan đến cái chết (2) Cái chết là sự dịch chuyển (3) Cái chết là sự dịch chuyển có định hướng (4) Cái chết là sự nghỉ ngơi – giấc ngủ (5) Cái chết là sự mất mát – thua cuộc (6) Cái chết là sự quy phục / đầu hàng (7) Các cảm xúc liên quan đến cái chết (8) Cái chết là sự mất ánh sáng (9) Tôn giáo, thần thoại và “truyện cổ tích”: Các nhân hóa (10) Tôn giáo, thần thoại và “truyện cổ tích”: “Các câu chuyện / điển tích về cái chết” Từ các nghiên cứu tiên phong nêu trên, đặc biệt là dựa trên bảng phân loại ẩn dụ về ý niệm cái chết mà Bultinck đưa ra, một loạt các nghiên cứu ẩn dụ về cái chết được thực hiện một cách cụ thể trên việc thu thập, khảo sát ngữ liệu là các ngôn ngữ của các quốc gia hay các diễn ngôn trong các ngữ cảnh hoặc các văn bản đặc thù như Kinh thánh, Điếu văn, môi trường bệnh viện, … hoặc tiếp cận dưới góc nhìn so sánh, đối chiếu các ngôn ngữ. Các nghiên cứu này thực hiện đều nhằm trả lời 3 câu hỏi chính: 12 (1) Có thể tìm ra các miền nguồn, miền đích, biểu thức ngôn ngữ nào diễn tả ý niệm cái chết trong các ngôn ngữ hay ngữ cảnh khác nhau, và cơ chế ánh xạ của các biểu thức đó là gì? (2) Các yếu tố về văn hóa, tư duy, tôn giáo, … có ảnh hưởng như thế nào đến sự tri nhận về cái chết ở các dân tộc khác nhau? (3) Các ngôn ngữ có cách tri nhận về cái chết tương đồng và khác biệt như thế nào khi nói về ý niệm cái chết? Ở hướng nghiên cứu một ngôn ngữ hoặc ngôn ngữ trong các bối cảnh khác nhau có thể kể ra một số công trình nổi bật được ghi nhận như: Luận án tiến sĩ “Spatial Cognition and the Death Metaphor in the Hebrew Bible” (Ẩn dụ ý niệm về cái chết trong kinh thánh của người Do Thái) của Adriaan, L.
(2011) [48]: nghiên cứu góc nhìn về cái chết trong cách nói tiếng địa phương ở 1 số ngôi làng ở Đài Loan; Công trình “Metaphors for “good” or “bad” deaths - A health professional view” (ẩn dụ nói về cái chết từ góc nhìn chuyên gia sức khỏe) của Zsófia, D. [61] : phỏng vấn cách sử dụng từ vựng để nói về cái chết trong môi trường bệnh viện, cơ sở y tế. “A Cognitive Analysis of Metaphorical euphemisms of death in Kenyan Newspaper Obituaries” (2018) (phân tích tri nhận uyển ngữ có tính tri nhận nói về cái chết trên ngữ liệu Cáo phó bằng tiếng Kenya) của Anashia, N. [50], “Metaphoric Conceptualizations of Death in Gĩkũyũ” (2017) (Ẩn dụ ý niệm về cái chết trong ngôn ngữ Gĩkũyũ) của Moses Gatambuki Gathigia [96: tr.
215- 235]; luận án của Danijel Berković “Grammar of Death in the Psalms - With Reference to Motion as Conceptual Metaphor” (2016) (ý nghĩa của cái chết trong thánh kinh – tham chiếu góc độ ẩn dụ ý niệm) [59]; “Conceptualization of ‘Death is a Journey’ and ‘Death as Rest’ in EkeGusii Euphemism” (2012) (ý niệm “CÁI CHẾT LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH” và “CÁI CHẾT LÀ SỰ NGHỈ NGƠI” trong uyển ngữ của ngôn ngữ EkeGusii – Ngôn ngữ nói của tộc người Bantu ở Kisii và Nyamira, Kenya) của Damaris G. 1452-1457]; “Metaphors and Euphemisms of Death in Akan and Hebrew” (2020) (Ẩn dụ và uyển ngữ nói về cái chết trong tiếng Akan và Do Thái ở Ghana) [54: tr.404-421] của tác giả Charles, O. Hướng tiếp cận nghiên cứu so sánh, đối chiếu ngôn ngữ chỉ cái chết ở các ngôn ngữ khác nhau cũng có nhiều nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu, chẳng hạn như nghiên cứu “A cross-linguistic study of metaphors of death” (2018) (Nghiên cứu xuyên ngôn ngữ về ẩn dụ về cái chết) của các tác giả Moses, G. Nghiên cứu này dựa trên lý thuyết Ẩn dụ ý niệm nhằm xác định và phân loại ẩn dụ ý niệm về cái chết trong 6 ngôn ngữ: tiếng Trung Quốc, tiếng Ba Tư, tiếng Gĩkũyũ, tiếng Nga, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Thụy Điển.
Bài báo “A Contrastive Study of Death Metaphors in English and Chinese” (2014) (Nghiên cứu đối chiếu ẩn dụ chỉ cái chết trong tiếng Anh và tiếng Trung Quốc) của Cong, T. [86] là cách tiếp cận đối chiếu giữa 2 ngôn ngữ của hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây, phản ánh lối tư duy, văn hóa,… tín ngưỡng của người Anh và người Trung Quốc. Luận văn thạc sĩ “Death by Metaphor: A study of metaphors and conceptualisations of death in British and American obituaries (2014) (Cái chết trong ẩn dụ ý niệm: nghiên cứu ẩn dụ ý niệm về cái chết trong ngôn ngữ điếu văn tiếng Anh - Anh và tiếng Anh – Mỹ) của Mari, A. [90] cũng góp thêm tiếng nói vào các nghiên cứu đối chiếu phạm trù cái chết ở các ngôn ngữ khác nhau.
Nhìn chung, ẩn dụ ý niệm về cái chết là đề tài được nghiên cứu ở nhiều ngôn ngữ, các ẩn dụ tìm thấy ở cả 3 loại: cấu trúc, bản thể và định hướng, các miền nguồn được kích hoạt trong cơ chế ánh xạ cũng có sự tương đồng như miền nguồn “cuộc hành trình”, “giấc ngủ”, “sự nghỉ ngơi”, “thực thể”, “vật chứa”, “chuyển động có hướng”,… tuy nhiên, trong các ngôn ngữ khác nhau, việc sử dụng các dụ dẫn để diễn đạt thuộc tính của miền nguồn lại không hoàn toàn giống nhau. Điều này thể hiện lối khác biệt trong tư duy và ảnh hưởng của yếu tố văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng của từng dân tộc. Những nghiên cứu trong nước Ở tiếng Việt, các nghiên cứu ẩn dụ ý niệm “cái chết” là địa hạt chưa có nhiều nghiên cứu. Tuy nhiên, trong những nghiên cứu ngôn ngữ ở các phương diện khác như đặc điểm danh học, ngữ nghĩa hay những nghiên cứu về uyển ngữ trong, cách diễn đạt ý niệm “cái chết” bằng ẩn dụ đã được lý giải phần nào bằng đặc trưng văn hóa, tư duy dân tộc.
Từ góc độ nghiên cứu về đặc điểm danh học và đặc điểm ngữ nghĩa trong cách định danh “sự kết thúc cuộc đời của con người” tác giả Nguyễn Đức Tồn và Huỳnh Thị Thanh Trà (1994) [40:tr,53-60) đã phân tích và rút ra một số kết luận như sau: Về phương diện đặc điểm danh học, có 3 phương thức định danh “sự kết thúc cuộc đời của con người” dựa trên (1) nguồn gốc từ ngữ; (2) Kiểu ngữ nghĩa của từ ngữ; và (3) Cách thức biểu thị của từ ngữ. Trong đó, với phương thức định danh dựa trên kiểu ngữ nghĩa của từ ngữ, có thể xét theo phạm vi định danh trực tiếp – gián tiếp (hay nguyên sinh – thứ sinh). Các đơn vị định danh gián tiếp “cái chết” chiếm số lượng khoảng 55% với những cụm từ như bỏ mình, nhắm mắt, tắt thở, khuất, ngoẻo, héo, chầu Hà Bá,… Các đơn vị định danh gián tiếp này là sản phẩm của quá trình ẩn dụ hóa, đồng hóa con người với động thực vật hoặc lấy tư thế, hành động điển hình của con người khi qua đời để biểu trưng hóa. Xét theo cách thức biểu thị của từ ngữ, các đơn vị định danh được xem xét theo 2 nhóm: Nhóm đơn vị định danh trực tiếp và nhóm đơn vị định danh gián tiếp.