Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số 9229020) của nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Việt với đề tài "Miền ý niệm vật dụng trong tiếng Việt (trên cứ liệu ca dao, tục ngữ và thành ngữ)" được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Lê Kính Thắng và TS. Huỳnh Thị Hồng Hạnh.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng ngôn ngữ học tri nhận (Cognitive Linguistics) từ khi ra đời vào những năm 1970 và phát triển mạnh từ những năm 1980 đã xác lập khung lý thuyết hoàn chỉnh nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa. Trong đó, ẩn dụ ý niệm và miền ý niệm là các chủ đề trọng tâm. Nhiều học giả quốc tế đã mô tả các miền ý niệm mang tính phổ quát, và các nhà Việt ngữ học cũng đã khảo sát một số miền ý niệm như sông nước, đồ ăn, bộ phận cơ thể người, chất lỏng, hiện tượng thời tiết. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu một cách toàn diện và có hệ thống về miền ý niệm vật dụng trong tiếng Việt, dù các vật dụng quen thuộc như bát, đũa, mâm, nồi, dao, thớt, giường, chiếu, quần, áo, cày, cuốc xuất hiện với tần suất dày đặc trong kho tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ của người Việt.
Luận án đặt ra ba vấn đề nghiên cứu chính cần giải quyết:
- Miền ý niệm vật dụng tồn tại và hiện diện như thế nào trong tâm trí người Việt?
- Sự biểu hiện của miền ý niệm vật dụng trong các mô hình tri nhận diễn ra ra sao?
- Vai trò của miền ý niệm vật dụng trong cơ chế ánh xạ nguồn – đích được xác lập như thế nào?
Mục đích nghiên cứu của luận án là vận dụng các lý thuyết cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận để xác lập, miêu tả miền ý niệm vật dụng trong tiếng Việt trên cứ liệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ; qua đó phân tích các mô hình tri nhận, mô hình ẩn dụ ý niệm và lý thuyết nghiệm thân nhằm làm sáng tỏ cách thức ý niệm hóa và đặc trưng tri nhận của cộng đồng người Việt về thế giới vật dụng.
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm ba nhiệm vụ cụ thể:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận liên quan trực tiếp đến đề tài (lý thuyết miền, mô hình tri nhận, ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm và nghiệm thân).
- Khảo sát, thống kê, phân loại hệ thống ý niệm vật dụng có trong ca dao, tục ngữ và thành ngữ tiếng Việt để xác lập và mô tả cấu trúc miền ý niệm vật dụng cùng các thuộc tính của nó.
- Vận dụng lý thuyết mô hình tri nhận và ẩn dụ ý niệm kết hợp với lý thuyết nghiệm thân để giải thích quá trình tri nhận của người Việt; liên hệ với tiếng Anh và một số miền ý niệm khác trong tiếng Việt.
Đối tượng nghiên cứu là các ý niệm thuộc miền ý niệm vật dụng trong tiếng Việt. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các ý niệm vật dụng được khảo sát và trích xuất từ nguồn ngữ liệu ca dao, tục ngữ và thành ngữ tiếng Việt, đặt trong mối quan hệ với tư duy và văn hóa truyền thống của người Việt.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án được chia thành hai mảng nghiên cứu ngoài nước và trong nước:
Ở ngoài nước, nghiên cứu về miền ý niệm và ẩn dụ ý niệm bắt nguồn từ ba dòng lý thuyết chính:
- Lý thuyết Ngữ pháp tri nhận của Ronald Langacker (1987) với các khái niệm miền cơ bản (basic domains), miền trừu tượng (abstract domains), hình bóng (profile) và hình nền (base).
- Lý thuyết Ngữ nghĩa học khung của Charles Fillmore (1982) với quan niệm cấu trúc ngữ nghĩa gắn liền với cấu trúc tri thức bách khoa.
- Lý thuyết Ẩn dụ ý niệm khởi xướng bởi George Lakoff và Mark Johnson (1980, 1999, 2003). Các công trình tiếp theo của Lakoff (1987, 1993), Alice Deignan (1995 với 12 miền nguồn thông dụng), Zoltán Kövecses (2010, 2020 bổ sung miền nguồn lực thành 15 miền nguồn; phân tích cơ chế làm nổi bật - highlighting và làm mờ - hiding), Mark Johnson (2017 về sơ đồ hình ảnh và tâm trí nghiệm thân), Vyvyan Evans (2007, 2019 về cấu trúc ý niệm và động lực ánh xạ một chiều), Jeannette Littlemore (2019 về biến đổi đa văn hóa trong ẩn dụ nghiệm thân), William Croft, Antonio Barcelona (2012), Günter Radden và Zoltán Kövecses (1999) về ma trận miền và hoán dụ ý niệm.
Ở trong nước, các nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận được tiếp cận từ công trình của Lý Toàn Thắng (2005, 2009, 2015) về lý thuyết đại cương, tri nhận không gian và nghiệm thân. Tiếp đó là các nghiên cứu của:
- Nguyễn Đức Tồn (2008, 2009) về đặc trưng tư duy hình tượng, cảm giác - trực quan của người Việt qua ẩn dụ trong thành ngữ.
- Trịnh Sâm (2011, 2013, 2015, 2016, 2019) về miền ý niệm sông nước, các miền nguồn tiếng Việt và ba dạng nghiệm thân (sinh lý, tự nhiên, xã hội).
- Trần Thị Phương Lý (2012) về ẩn dụ ý niệm phạm trù thực vật.
- Đặng Thị Hảo Tâm (2012) về ẩn dụ ý niệm "vàng".
- Nguyễn Thị Bích Hợp (2015) về ẩn dụ ý niệm miền "đồ ăn".
- Ngô Tuyết Phượng (2017) về ẩn dụ tri nhận trong thành ngữ, tục ngữ Việt Nam (cuộc đời, con người, giàu nghèo, sông nước).
- Tăng Tấn Lộc (2017) về bức tranh ngôn ngữ sông nước.
- Nguyễn Thị Hiền (2017) về miền bộ phận cơ thể người.
- Nghiêm Hồng Vân (2018) về ẩn dụ cảm xúc vui mừng và tức giận đối chiếu Việt - Nhật.
- Lê Lâm Thi (2018) về ẩn dụ phạm trù lửa đối chiếu Pháp - Việt.
- Nguyễn Thị Thanh Huyền (2019) về ẩn dụ thị trường chứng khoán đối chiếu Anh - Việt.
- Nguyễn Thị Lan Phương (2020) về ẩn dụ trong diễn ngôn quảng cáo Anh - Việt.
Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là: Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào các miền ý niệm tự nhiên (sông nước, thực vật, lửa) hoặc sinh học (bộ phận cơ thể, đồ ăn), chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt và có hệ thống về miền vật dụng – một sản phẩm văn hóa vật chất trực tiếp gắn với đời sống lao động, sinh hoạt của người Việt. Đồng thời, luận án lấp đầy khoảng trống trong việc gắn kết chặt chẽ mô hình ẩn dụ ý niệm với nền tảng triết học nghiệm thân (đặc biệt là ba phương diện nghiệm thân sinh lý, tự nhiên, xã hội) và cấu trúc sơ đồ hình ảnh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết của luận án được xây dựng từ các khái niệm then chốt của ngôn ngữ học tri nhận:
- Khái niệm ý niệm (concept): Được xác định là đơn vị kiến thức hình thành trên cơ sở tương tác giữa con người với thế giới, mang dấu ấn cá nhân, tính đặc thù dân tộc và tính phổ quát nhân loại. Cấu trúc ý niệm gồm trường - chức năng tổ chức theo mô hình trung tâm và ngoại vi (kết hợp quan điểm của Trần Văn Cơ, 2011; Pesina & Solonchak, 2015; Evans, 2019).
- Miền ý niệm (conceptual domain): Là cấu hình tri thức nền tảng cung cấp bối cảnh cho quá trình ý niệm hóa đơn vị ngữ nghĩa (theo Langacker, 1987; Taylor, 2002; Evans, 2007).
- Mô hình tri nhận (cognitive models): Gồm 4 kiểu mô hình theo phân loại của George Lakoff (1987): mô hình cấu trúc mệnh đề, mô hình cấu trúc sơ đồ hình ảnh, mô hình hoán dụ ý niệm và mô hình ẩn dụ ý niệm.
- Ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor): Là cơ chế ánh xạ có hệ thống giữa hai miền kinh nghiệm khác nhau (từ miền nguồn cụ thể sang miền đích trừu tượng theo mô hình MIỀN ĐÍCH LÀ MIỀN NGUỒN).
- Hoán dụ ý niệm (conceptual metonymy): Phép ánh xạ diễn ra giữa các ý niệm nằm trong cùng một miền ý niệm hoặc một ma trận miền (theo William Croft; Evans & Green).
- Lý thuyết nghiệm thân (embodiment): Dựa trên quan điểm của Lakoff & Johnson (1999), Tim Rohrer (2007), Evans (2019) và Trịnh Sâm (2019), phân chia thành nghiệm thân sinh lý, nghiệm thân tự nhiên và nghiệm thân xã hội.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp các phương pháp và thủ pháp sau:
- Phương pháp miêu tả: Miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa, cấu trúc miền ý niệm vật dụng và cách hình dung của người bản ngữ.
- Phương pháp phân tích: Phân tích các quá trình ý niệm hóa, cơ chế ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích.
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Thu thập các đơn vị từ ngữ chỉ vật dụng trong ngữ liệu, phân nhóm theo tiểu miền, xác định tần suất xuất hiện và nhận diện các điển dạng (prototype) cùng các thuộc tính nổi trội.
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: So sánh nội bộ với các miền ý niệm khác trong tiếng Việt và đối chiếu bổ trợ với tiếng Anh trong một số trường hợp cụ thể.
Nguồn tư liệu ngữ liệu của luận án được trích xuất từ 5 công trình chuyên khảo và từ điển chuẩn mực về văn học dân gian và thành ngữ tiếng Việt:
| STT |
Tên công trình |
Tác giả / Chủ biên |
Nhà xuất bản |
| 1 |
Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam trong hành chức |
Đỗ Thị Kim Liên |
NXB Khoa học xã hội |
| 2 |
Thành ngữ học tiếng Việt |
Hoàng Văn Hành |
NXB Khoa học xã hội |
| 3 |
Thành ngữ tiếng Việt |
Nguyễn Lực & Lương Văn Đang |
NXB Khoa học xã hội |
| 4 |
Kho tàng ca dao người Việt (4 tập) |
Nguyễn Xuân Kính (chủ biên) |
NXB Văn hóa thông tin |
| 5 |
Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam |
Vũ Ngọc Phan |
NXB Văn học |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu và cơ sở lí thuyết
Chương 1 thực hiện tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về miền ý niệm, ẩn dụ và hoán dụ tri nhận. Tác giả tổng hợp nguồn gốc lý thuyết miền từ Ngữ pháp tri nhận của Langacker, Ngữ nghĩa học khung của Fillmore và thuyết Ẩn dụ ý niệm của Lakoff & Johnson. Chương này xác lập các khái niệm công cụ: ý niệm, miền ý niệm, miền nguồn, miền đích, ma trận miền, hình bóng - hình nền, mô hình tri nhận (gồm mô hình mệnh đề, sơ đồ hình ảnh, hoán dụ, ẩn dụ), nguyên lý ánh xạ một chiều và lý thuyết nghiệm thân. Đây là nền tảng thao tác luận cho việc triển khai nghiên cứu thực nghiệm ở các chương sau.
Chương 2. Cấu trúc miền ý niệm vật dụng trong tiếng Việt
Chương 2 tập trung nhận diện, định nghĩa và phân loại vật dụng với tư cách là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận. Trên cơ sở ngữ liệu ca dao, tục ngữ và thành ngữ, tác giả phân tích cấu trúc của ý niệm vật dụng theo mô hình trung tâm – ngoại vi và xác lập hệ thống miền ý niệm vật dụng thành 2 tiểu miền chính:
- Tiểu miền vật dụng lao động sản xuất: Gồm các công cụ nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp truyền thống (cày, bừa, cuốc, cào, ách, đòn gánh, liềm, dao...).
- Tiểu miền vật dụng sinh hoạt: Được chia chi tiết thành các nhóm phục vụ các nhu cầu cơ bản của con người:
- Vật dụng phục vụ nhu cầu ăn uống: Bát, đũa, mâm, nồi, dĩa, thìa, thớt, chõng, cối, chày...
- Vật dụng phục vụ nhu cầu ở: Giường, chiếu, bàn, ghế, phản, mùng/màn...
- Vật dụng phục vụ nhu cầu mặc: Quần, áo, nón, khăn, khố, yếm, hài, guốc, tơ, lụa, vải nâu...
- Vật dụng phục vụ nhu cầu khác: Đèn, quạt, gương, lược, cơi trầu, điếu cày, tráp...
Chương 2 đồng thời xác định các thuộc tính nổi trội của miền ý niệm vật dụng (chất liệu, hình dáng, kích thước, công năng, độ bền, vị trí không gian) và chỉ ra các ý niệm điển dạng (prototype) có tần suất xuất hiện cao và giữ vị trí trung tâm trong đời sống như đũa, bát, mâm, nồi, giường, chiếu, cày, cuốc.
Chương 3. Mô hình tri nhận miền ý niệm vật dụng trong tiếng Việt
Chương 3 khảo sát các mô hình tri nhận miền ý niệm vật dụng dựa trên khung lý thuyết của Lakoff (1987), cụ thể gồm 4 mô hình:
- Mô hình cấu trúc mệnh đề: Phân tích cách thức tri thức về vật dụng được tổ chức qua các mệnh đề: (i) Mệnh đề khái quát đặc điểm của vật dụng; (ii) Mệnh đề thể hiện sự đánh giá chuẩn mực giá trị; (iii) Mệnh đề đúc kết kinh nghiệm thực tiễn và ứng xử xã hội.
- Mô hình cấu trúc sơ đồ hình ảnh: Khám phá các sơ đồ không gian gắn với vật dụng, bao gồm sơ đồ vật chứa (Container Schema) thể hiện qua không gian mâm cơm, bữa ăn, bàn ăn, quan hệ trong/ngoài - trên/dưới của ghế - bàn; sơ đồ mối dây (Link Schema) biểu thị sự ràng buộc và gắn kết; sơ đồ vật thể dạng ghép với nhau / kết hợp (như cấu trúc đôi đũa, cặp vật dụng).
- Mô hình hoán dụ: Phân tích các ánh xạ nội miền như hoán dụ chất liệu/nguồn gốc thay cho giá trị, bộ phận vật dụng thay cho toàn thể vật dụng, vật dụng thay cho người sử dụng, vật dụng thay cho hành động hoặc chức năng nghề nghiệp.
- Mô hình ẩn dụ: Bước đầu chỉ ra các ánh xạ xuyên miền từ miền nguồn vật dụng sang các miền đích khác nhau.
Chương 4. Hệ thống ẩn dụ ý niệm miền vật dụng trong tiếng Việt
Chương 4 là chương trọng tâm đi sâu vào hệ thống ẩn dụ ý niệm lấy miền vật dụng làm miền nguồn để ánh xạ sang ba miền đích cơ bản:
- Ánh xạ sang miền đích con người: Xác lập mô hình ẩn dụ tổng quát CON NGƯỜI LÀ VẬT DỤNG, cụ thể hóa thành các tiểu mô hình: ngoại hình con người là hình dáng/trạng thái vật dụng, tính cách/phẩm chất con người là đặc tính vật dụng (độ bền, sắc nhọn, cong thẳng), thân phận/vị thế con người là giá trị/đẳng cấp vật dụng (nồi đồng cối đá, bát mẻ chiếu manh, quần lụa áo tơ đối lập với quần nâu áo vải).
- Ánh xạ sang miền đích xã hội: Ánh xạ cấu trúc quan hệ gia đình, vợ chồng, tôn ti trật tự xã hội thông qua các cấu trúc vật dụng (quan hệ vợ chồng là đôi đũa; tổ chức xã hội là mâm cỗ/nồi cơm chung; trật tự quyền lực thể hiện qua vị trí trên/dưới của mâm, bàn, ghế).
- Ánh xạ sang miền đích hiện tượng tự nhiên: Khảo sát việc người Việt dùng đặc điểm của vật dụng để tri nhận và định danh các hiện tượng khí tượng, địa lý.
Chương này giải thích sâu sắc các đặc trưng tri nhận của hệ thống ẩn dụ vật dụng thông qua ba cấp độ nghiệm thân:
- Nghiệm thân sinh lý: Tri giác trực tiếp của cơ quan cảm giác (xúc giác, thị giác) và bộ phận cơ thể người tương tác với vật dụng (phóng chiếu từ bộ phận cơ thể người sang bộ phận vật dụng như miệng bát, quai nồi, chân bàn).
- Nghiệm thân tự nhiên: Sự thích ứng của vật dụng với môi trường khí hậu nhiệt đới, gió mùa, sông nước.
- Nghiệm thân xã hội: Phản ánh phương thức sản xuất lúa nước, tính cộng đồng làng xã và cấu trúc gia đình truyền thống.
Chương 4 cũng phân tích sự chi phối của triết lý âm – dương trong cách tư duy về vật dụng (cặp đôi, phối ngẫu, tính cân bằng như đũa đôi, mâm tròn, chiếu trải phẳng) và đi sâu miêu tả một số điển dạng tiêu biểu như ý niệm "đôi đũa", "nồi", "giường".
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án có các đóng góp:
- Củng cố và khẳng định tính hiệu quả, năng lực giải thích của ngôn ngữ học tri nhận đối với việc phân tích mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa trong tiếng Việt.
- Đề xuất quy trình nghiên cứu mang tính khái quát: Xuất phát từ một miền ý niệm cụ thể để xác lập và phân tích toàn diện các mô hình tri nhận (mệnh đề, sơ đồ hình ảnh, hoán dụ, ẩn dụ), qua đó định vị vị trí của miền ý niệm trong thế giới tinh thần của cộng đồng diễn ngôn.
- Làm nổi bật sự kết nối chặt chẽ giữa các mô hình tri nhận với lý thuyết nghiệm thân (sinh lý, tự nhiên, xã hội) – nền tảng triết học của ngôn ngữ học tri nhận mà nhiều nghiên cứu trước đây chưa khai thác sâu.
Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các giá trị:
- Là công trình chuyên khảo đầu tiên xác lập và miêu tả hệ thống miền ý niệm vật dụng trong tiếng Việt một cách toàn diện.
- Cung cấp nguồn ngữ liệu phong phú được thống kê, phân loại từ ca dao, tục ngữ, thành ngữ chỉ vật dụng, phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ học, ngôn ngữ học tri nhận, văn học dân gian và văn hóa học.
- Đóng góp các dẫn giải ý niệm hóa làm ngữ liệu giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, giúp người học quốc tế hiểu sâu sắc hơn về tư duy và văn hóa Việt Nam qua các vật dụng đời thường.
Về kiến nghị, luận án gợi mở việc tiếp tục ứng dụng khung phân tích này để khảo sát các miền ý niệm khác, cũng như mở rộng phạm vi xử lý ngữ liệu sang các diễn ngôn hiện đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, do mục tiêu tập trung vào bức tranh tư duy và văn hóa truyền thống ít chịu ảnh hưởng ngoại lai của người Việt, phạm vi ngữ liệu của luận án chỉ giới hạn trong ca dao, tục ngữ và thành ngữ tiếng Việt từ các từ điển và tuyển tập văn học dân gian tiêu biểu, chưa bao quát toàn bộ các văn bản ngôn ngữ đời sống khác.
Về hướng nghiên cứu tiếp, văn bản luận án gợi mở:
- Mở rộng ngữ liệu nghiên cứu sang các lĩnh vực diễn ngôn đương đại như báo chí, tác phẩm văn học hiện đại, ca từ âm nhạc.
- Đi sâu đối chiếu liên ngôn ngữ và liên văn hóa (như đối chiếu hệ thống ẩn dụ ý niệm vật dụng giữa tiếng Việt với tiếng Anh, tiếng Hán hoặc các ngôn ngữ Đông Nam Á) để làm rõ hơn các yếu tố phổ quát nhân loại và đặc thù dân tộc.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu: Tham khảo khung lý thuyết, quy trình thao tác hóa việc xác lập miền ý niệm và phương pháp phân tích mô hình tri nhận kết hợp nghiệm thân.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu Văn hóa học, Dân tộc học, Văn học dân gian: Sử dụng kết quả phân tích về biểu trưng văn hóa của các vật dụng truyền thống (đũa, bát, mâm, nồi, giường, cày, bừa) để kiến giải phong tục, nếp sống và triết lý sống của người Việt.
- Giảng viên giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài: Sử dụng hệ thống biểu thức ẩn dụ và phân tích ý niệm để giải thích ý nghĩa hàm ẩn của thành ngữ, tục ngữ trong giao tiếp thực tế.
Phần đáng tham khảo nhất là Chương 3 và Chương 4 với hệ thống sơ đồ hình ảnh (sơ đồ vật chứa, sơ đồ mối dây) và các mô hình ánh xạ ẩn dụ ý niệm gắn với ba cấp độ nghiệm thân.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ sở lựa chọn nguồn ngữ liệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ của luận án là gì?
Tác giả lựa chọn ca dao, tục ngữ và thành ngữ vì đây là nguồn ngữ liệu phản ánh trực tiếp, chân thực kinh nghiệm sinh hoạt và lao động sản xuất lâu đời của người Việt. Nguồn ngữ liệu này ít chịu tác động của giao lưu, tiếp xúc văn hóa ngoại lai nên mang đậm dấu ấn tư duy và văn hóa bản địa. Ngoài ra, ca dao, tục ngữ, thành ngữ có tính hệ thống cao, tạo điều kiện thuận lợi để khái quát các mô hình tri nhận và ẩn dụ ý niệm của cộng đồng diễn ngôn.
2. Miền ý niệm vật dụng trong luận án được phân chia thành những tiểu miền nào?
Miền ý niệm vật dụng được phân chia thành 2 tiểu miền chính: (1) Tiểu miền vật dụng lao động sản xuất (cày, bừa, cuốc, cào, ách, đòn gánh, liềm...); (2) Tiểu miền vật dụng sinh hoạt, bao gồm 4 nhóm: vật dụng phục vụ ăn uống (bát, đũa, mâm, nồi, dĩa...), vật dụng phục vụ nhu cầu ở (giường, chiếu, bàn, ghế...), vật dụng phục vụ nhu cầu mặc (quần, áo, nón, khăn, khố, yếm, vải lụa...) và vật dụng phục vụ nhu cầu khác (đèn, quạt, gương, lược, cơi trầu...).
3. Mô hình ẩn dụ tổng quát nào được xác lập cho miền vật dụng ánh xạ sang con người?
Mô hình ẩn dụ tổng quát được xác lập là CON NGƯỜI LÀ VẬT DỤNG. Mô hình này được phân rã thành các ánh xạ cụ thể: diện mạo, vóc dáng con người được ý niệm hóa qua hình dáng/kích thước vật dụng; tính cách, phẩm chất được ý niệm hóa qua độ bền, độ sắc bén hay cấu trúc vật dụng; thân phận, giá trị xã hội của con người được ý niệm hóa qua chất liệu và đẳng cấp của vật dụng (như sự đối lập giữa nồi đồng cối đá với bát mẻ, chiếu manh; giữa quần lụa áo tơ với quần nâu áo vải).
4. Luận án vận dụng lý thuyết nghiệm thân để giải thích các mô hình tri nhận như thế nào?
Tác giả kế thừa và vận dụng cách tiếp cận của Trịnh Sâm (2019) để giải thích sự tri nhận miền vật dụng qua 3 cấp độ nghiệm thân: nghiệm thân sinh lý (sự tương tác của các giác quan và cơ thể người với vật dụng, dẫn đến hiện tượng chuyển di tên gọi từ bộ phận cơ thể sang bộ phận vật dụng), nghiệm thân tự nhiên (sự thích ứng của chất liệu, hình dáng vật dụng với môi trường khí hậu nhiệt đới gió mùa, nông nghiệp lúa nước) và nghiệm thân xã hội (phản ánh phương thức canh tác cộng đồng, quan hệ gia đình và trật tự làng xã truyền thống).
5. Sơ đồ hình ảnh vật chứa (Container Schema) được thể hiện qua những vật dụng nào trong luận án?
Sơ đồ vật chứa được luận án phân tích điển hình qua không gian mâm cơm, bàn ăn và bữa ăn của người Việt. Mâm cơm được ý niệm hóa như một vật chứa giới hạn không gian sinh hoạt chung của gia đình, phản ánh sự gắn kết, chia sẻ và tôn ti trật tự theo các chiều hướng không gian trong/ngoài và trên/dưới.
Kết luận
Luận án của Nguyễn Đình Việt là công trình chuyên khảo đầu tiên trong Việt ngữ học nghiên cứu toàn diện miền ý niệm vật dụng dựa trên khung lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận. Bằng việc khảo sát hệ thống ngữ liệu ca dao, tục ngữ và thành ngữ phong phú, luận án đã xác lập cấu trúc miền ý niệm vật dụng, làm sáng tỏ các mô hình tri nhận mệnh đề, sơ đồ hình ảnh, hoán dụ và hệ thống ánh xạ ẩn dụ ý niệm. Công trình đã kết hợp chặt chẽ việc phân tích ngôn ngữ với lý thuyết nghiệm thân và triết lý âm – dương, góp phần phác họa rõ nét bức tranh ngôn ngữ về thế giới vật dụng trong mối liên hệ mật thiết với tư duy và văn hóa truyền thống của người Việt.