Chương 1 khái quát tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nhằm đánh giá những kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại, qua đó, xác định hướng tiếp cận phù hợp và hiệu quả với đề tài. Bên cạnh đó, luận án cũng tiến hành hệ thống hoá những vấn đề lí thuyết của NNHTN liên quan trực tiếp đến đề tài, làm cơ sở cho việc triển khai những nội dung cụ thể ở 3 chương tiếp theo. Cấu trúc miền ý niệm vật dụng trong tiếng Việt Chương này nhận diện và miêu tả MYNVD trong tiếng Việt, cụ thể là phân tích cấu trúc MYNVD trên cơ sở thống kê, phân loại các ý niệm vật dụng trong ca dao, tục ngữ và thành ngữ tiếng Việt; kế đến, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu các thuộc tính của MYNVD, phân tích và miêu tả một số ý niệm, thuộc tính tiêu biểu cũng như xác định một số ý niệm điển dạng của MYNVD để làm căn cứ tìm hiểu sâu hơn về quá trình ý niệm hoá miền vật dụng trong những chương sau. Mô hình tri nhận miền ý niệm vật dụng trong tiếng Việt Chương 3 vận dụng lí thuyết mô hình tri nhận do Lakoff (1987) đề xuất để tìm hiểu các mô hình tri nhận của MYNVD.
Qua đó, chúng ta có thể nhận hiểu sâu hơn và rõ nét cách hình dung của người Việt về thế giới vật dụng dựa trên nền tảng kinh nghiệm. Chúng tôi cũng sẽ tìm hiểu thêm mối quan hệ về không gian, chuyển động, tương tác giữa các vật dụng hoặc mối quan hệ giữa các thuộc tính của MYNVD tồn tại trong tâm trí người Việt. Việc miêu tả và phân tích MYNVD thông qua những mô hình tri nhận giúp chúng ta có cái nhìn bao quát và đầy đủ hơn về mối liên hệ của ngôn ngữ - tư duy - văn hoá Việt, là cơ sở để luận án tiếp tục đi sâu vận dụng lí thuyết ADYN để tìm hiểu MYNVD ở chương tiếp theo. Hệ thống ẩn dụ ý niệm miền vật dụng trong tiếng Việt Luận án vận dụng lí thuyết ADYN để xác lập các mô hình ADYN miền vật dụng trên ngữ liệu ca dao, tục ngữ và thành ngữ có chứa từ ngữ chỉ vật dụng đã được thống kê ở chương 2.
Luận án dựa trên cơ chế sự ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích để khái quát về vai trò và đặc trưng tri nhận của người Việt về MYNVD nói chung và trong ADYN miền vật dụng nói riêng trên cơ sở nghiệm thân. Luận án cũng sẽ phân tích thêm một số ý niệm điển để thấy rõ hơn sự vận động của MYNVD trong quá trình ý niệm hoá thế giới. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu 1.
Ở ngoài nước Miền (domain) hay miền ý niệm (conceptual domain), miền kinh nghiệm (experiential domain) là một trong những khái niệm cơ bản trong lí thuyết NNHTN. Lí thuyết miền/ miền ý niệm (MYN) được xây dựng trên 3 nguồn: lí thuyết ADYN do Lakoff và Johnson đề xuất; lí thuyết Ngữ nghĩa học khung (Frame Semantics) do Fillmore khởi xướng và lí thuyết Ngữ pháp tri nhận (Cognitive Grammar) do Langacker xây dựng. Trong luận án này, chúng tôi sẽ khái lược về lịch sử nghiên cứu MYN từ 3 nguồn trên để đem lại cái nhìn bao quát nhất, giúp chúng ta có thể hình dung được đầy đủ về khái niệm MYN trong NNHTN. Miền trong lí thuyết ngữ nghĩa học khung và lí thuyết ngữ pháp tri nhận Langacker có lẽ là người đặt nền móng đầy đủ nhất cho lí thuyết MYN của NNHTN.
Thuật ngữ miền/lĩnh vực được xem là tương tự như thuật ngữ khung (frame) của Fillmore (1982, tr. Cả hai tác giả đều cho rằng cấu trúc ngữ nghĩa liên quan đến tri thức bách khoa và nghĩa được mã hoá bằng ngôn ngữ không thể được hiểu độc lập với cấu trúc kiến thức lớn hơn. Langacker gọi những cấu trúc kiến thức này là miền. Langacker đã rất dụng công trong việc xây dựng lí thuyết miền, cụ thể ông đã dành chương 4 (từ trang 147-182) trong tác phẩm Foundations of Cognitive Grammar: Theoretical Prerequisites (1987) (Cơ sở của Ngữ pháp tri nhận: Điều kiện tiên quyết về lý thuyết) để thảo luận về miền.
Tác giả cho rằng: “Tất cả các đơn vị ngôn ngữ đều phụ thuộc vào ngữ cảnh ở một mức độ nào đó. Một ngữ cảnh để mô tả đặc điểm của một đơn vị ngữ nghĩa được gọi là một miền. Miền nhất thiết phải là thực thể tri nhận: trải nghiệm tinh thần, không gian đại diện, các ý niệm hoặc phức hợp ý niệm” (tr. Nói cách khác, miền là một cấu trúc tri thức có vai trò cung cấp thông tin cơ bản để hiểu và sử dụng được các thực thể ý niệm với mức độ phức tạp và tổ chức khác nhau trong đó.
Xa hơn, Langacker còn đưa ra khái niệm miền cơ bản (basic domains) và miền trừu tượng (abstract domains). Theo tác giả, “năng lực giác quan của chúng ta cung cấp nhiều miền cơ bản khác nhau” (tr.149) và các miền cơ 9 bản dựa trên những trải nghiệm của hệ thống giác quan của chúng ta (thị giác, vị giác, khứu giác, xúc giác, thính giác) giúp chúng ta cảm nhận được không gian, thời gian, màu sắc, nhiệt độ, mùi vị, áp suất… “các miền cơ bản nằm ở cấp độ thấp nhất trong các phân cấp về độ phức tạp của ý niệm: chúng cung cấp không gian đại diện ban đầu cần thiết cho sự xuất hiện của bất kỳ ý niệm cụ thể nào” (tr.149), ví dụ miền màu sắc xác định các ý niệm màu cụ thể như trắng, đen, đỏ, vàng… miền không gian hai chiều xác định các ý niệm như đường thẳng, vòng tròn… “Bất kỳ miền không cơ bản nào, tức là bất kỳ ý niệm hoặc phức hợp ý niệm nào có chức năng như một miền cho việc xác định ý niệm bậc cao hơn, sẽ được gọi là miền trừu tượng. Ví dụ: miền cơ bản của không gian ba chiều làm phát sinh đặc điểm hình dạng của cơ thể (BODY), sau đó tạo thành miền trừu tượng cho đặc điểm của cánh tay (ARM) (và cánh tay cho bàn tay (HAND), bàn tay cho ngón tay (FINGER)…” (tr. Taylor cũng nêu ra một số luận điểm quan trọng về MYN trong công trình Linguistic Categorization: Prototypes in Linguistic Theory (1995) (Phạm trù hoá ngôn ngữ: Điển dạng trong lý thuyết ngôn ngữ học).
Tác giả cho rằng “bất kỳ sự hình thành ý niệm hoặc cấu hình tri thức nào, dù đơn giản hay phức tạp, đều có thể đóng vai trò là miền tri nhận để mô tả đặc điểm của các ý nghĩa” (tr.84), ví dụ như tuần là miền ngữ nghĩa giúp chúng ta có thể hiểu được thứ Hai, chu kì ngày – đêm là miền để hiểu về tuần; không gian ba chiều là miền để hiểu về ra – vào, lên – xuống, trong – ngoài… Taylor cũng nhấn mạnh lại khái niệm miền cơ bản mà Langacker đã đề cập, “các miền cơ bản bao gồm các trải nghiệm cảm giác như nhiệt độ, màu sắc, mùi vị và độ cao, và có lẽ một số trạng thái tâm lý-logic nhất định như niềm vui và sự nhiệt tình” (tr. Năm 2002, với công trình Cognitive Grammar (Ngữ pháp tri nhận), Taylor đưa ra định nghĩa: “Miền là một cấu hình kiến thức 'nền tảng' khái quát hơn mà dựa vào đó quá trình ý niệm hoá sẽ đạt được” (tr.195) và “một miền có thể được định nghĩa là bất kỳ cấu hình tri thức nào cung cấp bối cảnh cho việc ý niệm hoá về một đơn vị ngữ nghĩa” với ví dụ “ý niệm ngón tay cái là cơ sở được gọi cụ thể để hình thành ý niệm móng tay cái, trong khi cơ thể con người là miền mà một loạt các thuật ngữ bộ phận cơ thể được hình thành” (tr. Theo chúng tôi quan điểm về MYN đến đây có thể được xem là khái quát và đầy đủ thông 10 qua định nghĩa của Taylor (2002) và Langacker (1987), dĩ nhiên phải đặt trong sự kết hợp với quan niệm về miền trải nghiệm/ miền kinh nghiệm (miền nguồn và miền đích) trong lí thuyết ADYN. Miền trong lí thuyết ẩn dụ ý niệm MYN được xem là một thực thể ý niệm được sử dụng trong lí thuyết ADYN và những cách tiếp cận liên quan đến phép chiếu ý niệm (conceptual projection), có nghĩa là cũng liên quan đến HDYN.
Cụ thể, một cấu trúc ADYN được xác lập khi có sự kết nối giữa những ý niệm thuộc hai miền khác nhau, miền nguồn (source domain) và miền đích (target domain) với mô hình khái quát là: MIỀN ĐÍCH LÀ MIỀN NGUỒN; một cấu trúc HDYN được hình thành khi có sự kết nối giữa các ý niệm trong cùng một MYN. Theo tri nhận luận, miền nguồn/ý niệm nguồn thường cụ thể, trực quan, dễ nhận biết, hoặc đã được ý niệm hóa trong tâm trí con người. Ngược lại, miền đích/ý niệm đích có xu hướng trừu tượng, khó xác định, mới mẻ với nhận thức hoặc kinh nghiệm của con người. Ví dụ như trong mô hình ADYN TÌNH YÊU LÀ MÀU SẮC, miền đích (TÌNH YÊU) trừu tượng, khó xác định hơn và miền nguồn (MÀU SẮC) cụ thể, dễ nhận biết hơn.
Điều này cho thấy rằng, nghiên cứu những mô hình tri nhận như ADYN và HDYN phải gắn liền với việc tìm hiểu MYN, tìm hiểu cơ chế ánh xạ giữa các MYN hay giữa các ý niệm trong cùng một miền, thậm chí là những ánh xạ phức tạp, chồng chéo trong những mô hình tương tác ẩn-hoán dụ… Tìm hiểu MYN, trong đó tập trung vào xác lập các miền đích, miền nguồn; xác định những miền nguồn và miền đích tiêu biểu; hay tìm hiểu vai trò của các MYN trong quá trình ý niệm hoá thế giới… đã được nhiều học giả tri nhận quan tâm từ rất sớm với những kết quả thống kê, phân loại phong phú, đa dạng. Ở trong luận án này chúng tôi chỉ giới thiệu tổng quan những công trình lớn, có tính chất khai mở, khái quát, để chúng ta có được sự hình dung bước đầu về sự tiếp cận của đề tài. Trong công trình Metaphors We Live By (Chúng ta sống bằng ẩn dụ) (1980), Lakoff và Johnson lần đầu nhắc đến khái niệm miền trong phần 11 khi nói về bản chất bộ phận của cấu trúc ẩn dụ (The Partial Nature of Metaphorical Structuring): “các ý niệm được cấu trúc theo phương thức ẩn dụ một cách có hệ thống, ví dụ: LÝ THUYẾT LÀ TOÀ NHÀ, chúng ta có thể sử dụng các biểu đạt (xây dựng, nền tảng) 11 từ một miền (TÒA NHÀ) để nói về các ý niệm tương ứng trong một miền đã được xác định theo phương thức ẩn dụ (LÝ THUYẾT).