MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Cho đến thời điểm này, ở Việt Nam chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về hệ thống ngữ âm tiếng Cho Ro (Châu Ro). Hệ thống ngữ âm của các phương. ngữ tiếng Chơ Ro cũng chưa được nghiên cứu quy mô.
Theo ghi nhận ban đầu từ cộng tác viên người Chơ Ro, cũng như các nghiên cứu của David Thomas (1971), tiếng Chơ Ro ở các vùng có khác biệt về ngữ âm và từ vựng nhưng chưa được nghiên cứu theo hệ thống. Các dữ liệu liên quan đến nghiên cứu ngữ âm tiếng Chơ Ro, nhìn chung chưa thể đáp ứng yêu cầu của việc nghiên cứu ngữ âm phương ngữ của ngôn ngữ này. Ngôn ngữ của một tộc người về mặt âm thanh là giọng nói của các cộng đồng phương ngữ thuộc ngôn ngữ đó. Bởi vậy, cần phải có sự kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây và bổ sung, đánh giá trong việc phân định các vùng phương ngữ Cho Ro và trong đó, phương ngữ nào là đại diện.
Miêu tả cách phát âm phương ngữ là công việc cần thiết dé góp phần xây dựng nền tảng ngữ âm, âm vị học cho tiếng Cho Ro. Khi có được càng nhiều công trình nghiên cứu về ngữ âm, giọng nói thì ngữ liệu âm thanh Chơ Ro sẽ được nâng lên về lượng và chất. Mặc dù hiện tại dân số tương đối thấp với khoảng 29.520 người (Tổng cục Thống kê, 2019) nhưng qua thực tế kiểm chứng, cộng đồng Chơ Ro cũng có những đặc trưng riêng đánh dấu ngữ âm phương ngữ. Do đó, cần có những nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện ngữ âm phương ngữ Chơ Ro.
Với lịch sử lâu đời, người Chơ Ro có sự bảo tồn những đặc trưng ngữ âm ở các phương ngữ như thế nào? Về thực tiễn sử dụng tiếng Chơ Ro, qua phỏng vấn, đồng bào Chơ Ro cho. thấy họ đã chú ý về khác biệt giọng nói giữa các vùng. Nhận định của các cộng tác viên đôi khi chưa thống nhất về việc phát âm tiếng Chơ Ro của cộng đồng thuộc phương ngữ lân cận. Trong giao tiếp của các cộng đồng Chơ Ro hiện nay, có một số trở ngại nhỏ về mặt ngữ âm.
Mặc dù là những trở ngại nhỏ nhưng việc hệ thống hoá, miêu tả những trở ngại này dưới góc độ ngữ âm học thì khá công phu. Giọng Chơ Ro các vùng miền cần được chỉ ra là độ lệch chuẩn của các biến thé. Bản thân người Cho Ro ý thức rất rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn ngôn ngữ, nên khi được gợi ý cung cấp dữ liệu tiếng nói thì họ sẵn sàng. Đối với tác giả, luận án Hệ (hồng ngữ âm các phương ngữ Châu Ro nằm trong hướng nghiên cứu ngữ âm dân tộc thiểu số, hướng nghiên cứu này đúng với chuyên ngành của mình.
Với thuận lợi về điều kiện nghiên cứu như khoảng cách điền dã gần nơi cư trú, các công cụ thu âm hiện đại, phần mềm phân tích thực nghiệm mới, tôi có thể thực hiện được luận án này một cách thuận lợi. Nhờ vận dụng phương pháp mới trong nghiên cứu ngữ âm phương ngữ, chúng tôi có thé góp phần xây dựng bản đồ phương ngữ Chơ Ro một cách trực quan. Tộc danh Cho Ro nằm trong Bảng danh mục các dân tộc Việt Nam. Bảng danh mục này có tông cộng 54 dân tộc và được chọn làm cơ sở để ghi tên các dân tộc thiêu số đã được trích dẫn trong luận án này (Tổng cục Thống kê, 1979).
Ngoài tên dân tộc chính là Cho Ro, còn có các tên gọi khác như: Jro, Do Ro, Châu Ro, Thượng. Trong đó, tên gọi Châu Ro được sử dụng khá phổ biến trong đời sống. Tuy vậy, nhằm đảm bảo cho tính thống nhất về mặt khoa học, chúng tôi sử dụng tộc danh Chơ Ro trong phan nội dung của luận án Hé thống ngữ âm các phương ngữ Châu Ro. Lịch sir nghiên cứu vấn đề Với đề tài luận án là Hệ thông ngữ âm các phương ngữ Châu Ro, chúng tôi sẽ lần lượt điểm qua các vấn đề như: các nghiên cứu về phương ngữ của các ngôn ngữ thuộc chỉ Môn-Khmer ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu tiếng Chơ Ro.
Nghiên cứu về phương ngữ của các ngôn ng! 2. Các công trình liên quan đến phương ng' Ban về các công trình nghiên cứu phương ngữ về tiếng Việt, nhìn chung các tác giả nghiên cứu theo các hướng chính như sau: a. Hướng nghiên cứu phương ngữ học địa lý Theo hướng nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu sẽ tập trung vào việc xác lập vị trí, ranh giới vùng phương ngữ và về cách phân chia các vùng phương ngữ trong lãnh thổ Việt Nam. Hướng nghiên cứu này thuộc khía cạnh đồng đại của ngữ âm học.
Nhà nghiên cứu Cadière là tác giả đầu tiên đề cập đến việc phân chia vùng phương ngữ Việt Nam. Theo tác giả này, phương ngữ Việt Nam được chia thành 4 vùng. Công trình Phonétique annamite: (dialecte du Haut-Annam) “Ngữ âm tiếng miễn Trung (phương ngữ Bắc Trung bộ) ” (Cadière, 1902) là công trình đầu tiên về phương ngữ tiếng Việt. Tiếp theo là Maspero H., với công trình Etudes sur la phonétique historique de la langue Annamite (Nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng An Nam) (Maspero, 1912b).
Maspéro chia tiếng Việt ra làm ba phương ngữ: phương ngữ Bắc (tonkinois), phương. Theo góc nhìn truyền thống phương ngữ học, chúng tôi tạm sắp xếp các công trình nghiên cứu theo kết quả nghiên cứu về mặt địa lý như sau: - Ở miền Bắc, giọng Hà Nội đã được nhiều nhà nghiên cứu khảo sát, phân tích. Có thể do nguyên nhân chính là vị thế trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của Hà Nội. Có thể kể đến các tác giả với các công trình tiêu biểu như: Thompson trong A Vietnamese Grammar (Thompson, 1965); Sampson trong Hanoi Dorsal Finals (Sampson, 1969); Alexis Michaud nghiên cứu Final Consonants and Glottalization: New Prespectives from Hanoi, Vietnam (Michaud, 2004); James Kirby nghiên cứu Vietnamese (Hanoi Vietnamese), (Kirby, 2011) - Ở miền Trung, vùng Quảng Bình được Cadière L.
chọn khảo sát ngữ âm phương ngữ Trung. Sau đó là công trình cua Emeneau M. Với công trình Studies in Vietnamese Grammar (Emeneau, 1951). đã chọn phương ngữ Vinh làm đối tượng khảo sát; Harvey M.
và Taylo miêu tả đặc điêm ngữ âm, thanh điệu giọng Huế (Taylor, 1962); Cao Xuân Hạo có khái quát các lược đồ biến đổi của các nguyên âm giọng Quảng Nam theo từng bối cảnh ngữ âm cụ thể (Cao Xuân Hạo, 1986); Vuong Hữu Lễ nhận xét về van trong thé ngữ ở Quảng Nam (Vương Hữu Lễ, 1981). nghiên cứu tiếng Vinh (Ferlus, 1991a) và miêu tả ngữ âm ở Cao Lao Hạ (Quảng Bình) (Ferlus, 1995); Alves M. và Nguyễn Duy Hướng nghiên cứu thé ngữ Thanh Chương (Nghệ An) (Alves & Nguyễn Duy Hương, 2007); Andrea Hoa Phạm nghiên cứu thanh điệu Nghi Lộc (Pham Hoa, 2005); Honda Koichi có những nhận định về giá trị F0 và thức tạo thanh trong thanh điệu tiếng Nghệ (Honda, 2006). V6 Xuân Qué nghiên cứu hệ thống ngữ âm thé ngữ Nghỉ Lộc (Võ Xuân Qué, 1993); Công trình Tir điển tiếng địa phương Nghệ Tinh được thực hiện công phu (Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh, Phan Mậu Cảnh, & Nguyễn Hoài Nguyên, 1999); Nguyễn Văn Lợi phân tích thanh điệu của các thé ngữ tại Nghệ An bằng máy tính (Nguyễn Văn Lợi, 2002); Nguyễn Văn Nguyên miêu tả ngữ âm phương ngữ Nghệ Tĩnh (Nguyễn Văn Nguyên, 2003); Trần Trí Dõi miêu tả thanh điệu tiếng Việt ở Cửa Lò thuộc Nghệ An (Trần Trí Dõi, 2002).
Trong cuốn sách Nguồn gốc và sự hình thành giọng Quảng Nam (Pham, 2022), giáo sư Michael Kenstowicz của Đại học MIT (Hoa Kỳ) nhận xét rằng tác giả Andrea Hoa Phạm đã kết hợp phân tích ngôn ngữ học và chứng cứ lịch sử của Việt Nam dé giải thích nguồn gốc của giọng Quang Nam. - Ở miền Nam, Thompson miêu tả âm vị tiếng Sài Gon (Thompson, 1959). Cao Xuân Hạo bàn về vấn đề âm vị dựa trên ngữ liệu giọng Nam Bộ (Cao Xuân Hạo, 1988). Trần Thị Ngọc Lang đưa ra nhận xét về sự khác biệt giữa phương ngữ Nam Bộ so với tiếng Việt toàn dan (Nguyễn Đức Dân & Trần Thị Ngọc Lang, 1983; Tran Thị Ngọc Lang, 1995).
Tác giả Huỳnh Công Tín (2007) với Từ điển từ ngữ Nam Bộ có chứa phần phiên âm âm vị học giúp người đọc thuận tiện hơn khi tìm hiểu ngữ âm giọng Nam Bộ. Một số công trình có áp dụng kỹ thuật thuộc về ngữ âm học thực nghiệm như: Tac giả Dinh Lê Thư bàn về phương thức tạo ra biến thé phụ âm đầu của phương. ngữ Bắc với biểu hiện của phụ âm xát thuần tuý hay phụ âm xát có yếu tố tắc bat đầu (Dinh Lê Thư, 1984); Hoàng Cao Cương miêu tả thanh điệu qua giọng địa phương trên cứ liệu FO (Hoàng Cao Cương, 1989); Nguyễn Văn Lợi & J. Edmondson bàn về thanh điệu và chất giọng trong giọng Bắc (Edmondson & Nguyễn Văn Lợi, 1997); Vũ Kim Bảng trình bay về hệ formant của nguyên âm tiếng Hà Nội (Vũ Kim Bảng, 2002).
Điều này chứng tỏ các giá trị âm học của phụ âm đầu như VOT hay giá trị âm học của nguyên âm (FI, F2) đã được các nhà nghiên cứu dùng làm minh chứng cho đặc điểm âm học của phương ngữ. Hướng nghiên cứu Phương ngữ học lịch sử Từ năm 1902, Cadière L. đã khởi đầu cho việc nghiên cứu ngữ âm tiếng An Nam (Cadière, 1902); Maspero H. thực hiện công trình nghiên cứu các dấu vết lịch sử ngữ âm tiếng miền Trung (Maspero, 1912a); Ferlus M.
nghiên cứu giọng tiền Việt — Mường đã có nhận định về lịch sử ngữ âm tiếng Việt (Ferlus, 1991b); Pinnow & Shorto nghiên cứu, so sánh các ngôn ngữ Đông Nam Á có liên quan đến tiếng Việt (Pinnow & Shorto, 1963); Nguyễn Tài Cần đã so sánh các phụ âm, nguyên âm tiếng Việt với các ngôn ngữ cùng nhóm, họ ngôn ngữ dé truy vết nguồn gốc (Nguyễn Tài Cần, 1997). André-Georges Haudricourt đề cập đến vị trí của tiếng Việt trong các ngôn ngữ Nam A (Haudricourt, 1953), ông bác bỏ ý kiến của H. Maspero về nguồn gốc họ Nam Á của tiếng Việt. Ferlus (1975) đã khai thác thêm tư liệu củng cố cho luận điểm của André-Georges Haudricourt.
Các tác giả này truy vết ngữ âm lịch sử tiếng Việt và so sánh với các ngôn ngữ cùng nhóm, cùng chỉ để phân loại, tái lập sơ đồ nhánh ngôn ngữ. Hướng kết hợp địa lý và lịch sử Shimizu Masaaki (2013) nghiên cứu về tiếng Quảng Nam, chỉ ra những bằng chứng về quá trình biến đổi phụ âm cuối. Bằng việc khảo sát từ hai góc độ, cả lịch đại và đồng đại, tác giả cho rằng, tiếng Quảng Nam được xem như cầu nối giữa phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam.