Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn/ngôn ngữ học với đề tài "Hệ thống ngữ âm các phương ngữ Châu Ro" (tên tiếng Anh: Phonetic Systems of Chrau Dialects) do nghiên cứu sinh Nguyễn Trần Quý thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học (mã số: 9229020), bảo vệ năm 2024. Công trình được hướng dẫn khoa học bởi PGS. Nguyễn Thị Phương Trang và TS. Đinh Lư Giang; phản biện độc lập bởi PGS.TS. Nguyễn Văn Chính; hội đồng phản biện gồm PGS. Lê Khắc Cường, PGS. Nguyễn Hoa Phương và TS. Nguyễn Hoàng Trung. Nghiên cứu đồng thời nhận được sự hỗ trợ từ Bộ Khoa học và Công nghệ trong khuôn khổ Đề tài KC-4.0 thuộc Chương trình "Hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ của công nghiệp 4.0/19-25" (Đề tài KC-4.0 về hệ thống tiếng Ba Na).

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Tộc người Chơ Ro (còn gọi là Châu Ro, Dơ Ro, Jro, Thượng) là một trong 54 dân tộc tại Việt Nam với dân số tương đối thấp, khoảng 29.520 người (theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2019). Cho đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, ở Việt Nam chưa có nhiều công trình khoa học khảo sát toàn diện và quy mô về hệ thống ngữ âm của các phương ngữ tiếng Chơ Ro. Các nghiên cứu trước đây (tiêu biểu là của David Thomas vào các năm 1960, 1967, 1971) dù đã ghi nhận sự khác biệt ngữ âm và từ vựng giữa các vùng nhưng số lượng cộng tác viên khảo sát rất hạn chế (như phương ngữ Chrao ở Long Khánh chỉ khảo sát trên 1 người), phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa vào thẩm âm thính giác, chưa có sự kiểm chứng bằng ngữ âm học thực nghiệm và chưa hệ thống hóa thành bản đồ phương ngữ định lượng. Trong thực tế giao tiếp, đồng bào Chơ Ro giữa các vùng (như Túc Trưng, Suối Giàu so với Xuân Lộc, Châu Đức) đã xuất hiện một số trở ngại về mặt phát âm, đòi hỏi phải có công trình miêu tả và xác lập độ lệch chuẩn ngữ âm nhằm phục vụ bảo tồn ngôn ngữ.

  • Mục tiêu nghiên cứu:

    • Mục tiêu chung: Trình bày sự khác biệt ngữ âm trong các phương ngữ Chơ Ro.
    • Mục tiêu cụ thể: (i) Khái quát các biến đổi, biến thể ngữ âm giữa các phương ngữ; (ii) Chỉ ra các đường đồng ngữ âm vị, qua đó xây dựng bản đồ phương ngữ Chơ Ro dựa trên cơ sở khác biệt ngữ âm giữa các vùng.
  • Câu hỏi nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):

    1. Cộng đồng người Chơ Ro ở huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai, huyện Định Quán tỉnh Đồng Nai và huyện Châu Đức tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có sự thống nhất và khác biệt gì về hệ thống ngữ âm? Có thể khái quát quy luật tạo nên sự khác biệt này?
    2. Tình hình phát âm tiếng Chơ Ro của đồng bào Chơ Ro hiện nay có gì khác biệt với các kết quả nghiên cứu ngữ âm trước đây?
    3. Các yếu tố xã hội như giới tính, tuổi tác được thể hiện như thế nào qua việc thực tiễn phát âm tiếng Chơ Ro của cộng tác viên ở các vùng được khảo sát?
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống ngữ âm của các phương ngữ Chơ Ro, bao gồm các biến thể ngữ âm ở tiền âm tiết và âm tiết chính, cùng các biến số phương ngữ xã hội (giới tính, độ tuổi).
    • Phạm vi không gian: 3 địa bàn khảo sát điền dã gồm thị trấn Ngãi Giao (huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), xã Túc Trưng (huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai) và xã Xuân Trường (huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai).
    • Phạm vi thời gian và góc độ tiếp cận: Dữ liệu ngữ âm được thu thập và khảo sát trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2022, tiếp cận theo bình diện đồng đại.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã điểm lại lịch sử nghiên cứu vấn đề qua ba mảng tài liệu chính:

  1. Nghiên cứu về phương ngữ tiếng Việt:

    • Hướng phương ngữ học địa lý: Khởi đầu từ công trình của Cadière (1902) chia phương ngữ Việt thành 4 vùng, tiếp theo là Maspero (1912b) chia 3 phương ngữ (Bắc, Trung, Nam). Giọng Hà Nội/phương ngữ Bắc được khảo sát bởi Thompson (1965), Sampson (1969), Alexis Michaud (2004), Kirby (2011). Phương ngữ Trung được khảo sát bởi Emeneau (1951), Harvey & Taylor (1962), Cao Xuân Hạo (1986), Vương Hữu Lễ (1981), Ferlus (1991a, 1995), Alves & Nguyễn Duy Hương (2007), Andrea Hoa Phạm (2005, 2022), Honda Koichi (2006), Võ Xuân Quế (1993), Nguyễn Nhã Bản và cộng sự (1999), Nguyễn Văn Lợi (2002), Nguyễn Văn Nguyên (2003), Trần Trí Dõi (2002). Phương ngữ Nam được nghiên cứu bởi Thompson (1959), Cao Xuân Hạo (1988), Nguyễn Đức Dân & Trần Thị Ngọc Lang (1983), Trần Thị Ngọc Lang (1995), Huỳnh Công Tín (2007).
    • Hướng phương ngữ học lịch sử và thực nghiệm: Cadière (1902), Maspero (1912a), Haudricourt (1953), Pinnow & Shorto (1963), Ferlus (1975, 1991b), Nguyễn Tài Cần (1997). Về ngữ âm thực nghiệm tiếng Việt có Đinh Lê Thư (1984), Hoàng Cao Cương (1989), Edmondson & Nguyễn Văn Lợi (1997), Vũ Kim Bảng (2002).
    • Hướng kết hợp địa lý và lịch sử: Tiêu biểu là công trình của Shimizu Masaaki (2013) và công trình tổng thể Phương ngữ học của Hoàng Thị Châu (2004) với việc phân chia 3 vùng phương ngữ và thiết lập 6 đường đồng ngữ.
  2. Nghiên cứu về phương ngữ của các ngôn ngữ thuộc nhóm Ba Na Nam:

    • Tiếng Cơ Ho: Tạ Văn Thông (1988, 2004, 2009) phân loại 4 nhóm phương ngữ (Chil, Lat, Sre - Nộp, Mạ), miêu tả hiện tượng đối lập trường độ, cao độ, hệ thống âm vực 2 bậc và quá trình đơn tiết hóa; Nguyễn Võ Lệ Quyên (2012) miêu tả biến thể phụ âm và nguyên âm.
    • Tiếng Mnông: Nguyễn Kiên Trường & Trương Anh (2009) phân loại 7 phương ngữ; Richard Phillips (1973) nghiên cứu nguyên âm căng/chùng; Nguyễn Văn Lợi (2009) phân tích quá trình vô thanh hóa phụ âm đầu tắc hữu thanh (*b>p, *d>t, *ɟ>c, *g>k) gắn liền với sự hình thành 2 lớp âm vực; Đinh Lê Thư (1994) chỉ ra tính chất chuyển tiếp giữa các phương ngữ Mnông.
    • Tiếng Xtiêng: Lê Khắc Cường (2000, 2015) khảo sát 2 phương ngữ Bu Lơ và Bu Deh, xác định hệ thống 2 âm vực (thấp và cao) và đưa ra số liệu so sánh độ dài từ âm vị (Cơ Ho chiếm 31,43% từ đa tiết, Chơ Ro chiếm 23,57%, Xtiêng chiếm 22,50%, Mnông chiếm 16,07%).
    • Hiện tượng đơn tiết hóa: Thạch Ngọc Minh (1999) nghiên cứu trong tiếng Khmer; Nguyễn Văn Huệ (2005) nghiên cứu trong các ngôn ngữ Ba Na Nam; Marc Brunelle & Pittayaporn (2012), Alexis Michaud (2012) giải thích mô hình tiến hóa âm tiết qua quy tắc Iambic-Trochaic.
  3. Nghiên cứu về tiếng Chơ Ro:

    • Các công trình của David Thomas và Dorothy Thomas thuộc Hội Ngôn ngữ học mùa hè (SIL) từ năm 1957 đến 1971, phối hợp với Thổ Sảng Lục (1966), biên soạn từ vựng và phân chia tiếng Chơ Ro thành 3 phương ngữ: Ro (bắc Bình Tuy), Bajieng (nam Bình Tuy), và Chrao (Long Khánh/Xuân Lộc). Tác giả Thomas cũng chỉ ra các dị biệt ngữ âm tại Túc Trưng (phụ âm /r/ chuyển thành /g/, /g/ chuyển thành /k/, xuất hiện tổ hợp phụ âm [hn-], [ʔj]).
    • Các nghiên cứu của Paul Sidwell (2000), Trần Quang Vinh (2005) về hệ thống 15 nguyên âm âm tiết chính (với tranh luận về trường độ dài/ngắn của âm vị /i/), Từ điển Việt - Châu Ro của Trần Tấn Vĩnh (2008), và nghiên cứu thực nghiệm âm vực của Tạ Thành Tấn, Marc Brunelle, Nguyễn Trần Quý (2019, 2022).
  • Khoảng trống luận án giải quyết: Luận án khắc phục phương pháp thẩm âm thính giác truyền thống và giới hạn dữ liệu của các tác giả đi trước bằng việc triển khai nghiên cứu ngữ âm học thực nghiệm (acoustic phonetics) trên cỡ mẫu 72 cộng tác viên, đồng thời ứng dụng trắc học phương ngữ (dialectometry) để định lượng và số hóa bản đồ phân vùng phương ngữ Chơ Ro.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng:

    • Khái niệm phương ngữ, giọng (accent) và thể liên tục phương ngữ (dialect continuum) theo Charles Boberg, John Nerbonne & Dominic Watt (2018), Chambers & Trudgill (1998), Fromkin, Rodman & Hyams (2013), Hoàng Thị Châu (2004), David Crystal (2008).
    • Khái niệm biến thể ngữ âm và 4 quy tắc phân xuất âm vị học của Trubetzkoy (1971), kết hợp sử dụng cặp tối thiểu (minimal pair) và cặp cận tối thiểu (near minimal pair).
    • Thuật ngữ đường đồng ngữ âm vị (isophonic line / isophone) thay cho đường đồng ngữ chung (isogloss).
    • Khái niệm tính thông hiểu lẫn nhau (mutual intelligibility) và độ lệch chuẩn (standard deviation).
    • Phương pháp trắc học phương ngữ (Dialectometry) của Szmrecsanyi (2013), Goebl (1993), Heeringa (2004a), Nerbonne (2010), cùng kỹ thuật phân tích không gian đa biến (multivariate spatial analysis) dựa trên phân tích tự tương quan không gian cục bộ (local spatial autocorrelation) của Grieve, Speelman & Geeraerts (2011, 2013).
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:

    1. Phương pháp điền dã ngôn ngữ học:
      • Khảo sát mẫu gồm 72 cộng tác viên (36 nam, 36 nữ) tại 3 địa phương. Tiêu chí chọn mẫu: tuổi từ 18 đến 65 (chia thành 2 nhóm tuổi: 18-45 và 46-65); sinh ra và cư trú tối thiểu 4 năm tại địa phương; gia đình có bố mẹ là người Chơ Ro và kết hôn với người Chơ Ro; cơ quan phát âm bình thường; sử dụng tiếng Chơ Ro làm ngôn ngữ giao tiếp chính trong cộng đồng.
      • Xây dựng bảng từ: Kế thừa Bảng từ EFEO-CNRS-SOAS (2986 mục từ), Bảng từ Swadesh 281 từ, Bảng từ Ngữ vựng Chrau (Thomas & Thổ Sảng Lục, 1966), Từ điển Việt - Châu Ro (Trần Tấn Vĩnh, 2008), và thiết lập Bảng từ 1626 mục từ phiên âm IPA cho giọng Xuân Lộc để khảo sát đầy đủ các kết hợp âm vị.
      • Quy trình thu âm: Tổng thời gian ghi âm đạt 120 giờ (Châu Đức: 38 giờ, Xuân Lộc: 42 giờ, Định Quán: 40 giờ; tối đa 1 giờ/buổi/người). Từ khảo sát (X) được đặt trong khung câu mẫu: "an paj X ru: ru: an gru: can" (nghĩa: Tôi nói X chậm chậm cho thầy nghe). Mỗi từ được đọc lặp lại 3 lần theo thứ tự ngẫu nhiên.
    2. Phương pháp ngữ âm học thực nghiệm:
      • Thiết bị và phần mềm: Sử dụng micrô Shure SM 58-LC, Card âm thanh Roland Tri Capture, phần mềm Cool Edit Pro 2.1 (thu âm file *.wav), và công cụ phân tích âm học PRAAT phiên bản 6.
      • Thông số đo đạc: Phụ âm được đo thời gian khởi thanh (VOT), ảnh phổ, sóng âm; nguyên âm được đo tần số cơ bản F0, các formant F1, F2, chỉ số phổ H1*-H2* (đo độ thở/chất giọng trong 200 ms đầu) và trường độ (duration).
    3. Phương pháp miêu tả và so sánh: Miêu tả hệ thống ngữ âm trên bình diện đồng đại; so sánh đối chiếu các biến thể giữa 3 phương ngữ và đối chiếu với các ngôn ngữ nhóm Ba Na Nam.
    4. Phương pháp trắc học phương ngữ: Xử lý số liệu khoảng cách ngữ âm, phân tích không gian đa biến MDS (Multidimensional Scaling), xây dựng biểu đồ phân nhánh và vẽ bản đồ đường đồng ngữ âm vị.
Phân bố số lượng cộng tác viên khảo sát Nhóm 18–45 tuổi (Nam) Nhóm 18–45 tuổi (Nữ) Nhóm 46–65 tuổi (Nam) Nhóm 46–65 tuổi (Nữ) Tổng số
Châu Đức (Bà Rịa - Vũng Tàu) 6 6 6 6 24
Xuân Lộc (Đồng Nai) 6 6 6 6 24
Định Quán (Đồng Nai) 6 6 6 6 24
Tổng cộng toàn bộ mẫu 18 18 18 18 72

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý thuyết và thực tiễn

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng: phân biệt phương ngữ và giọng; các mô hình thể hiện mối quan hệ giữa biến thể khu vực và tầng lớp xã hội; tiêu chuẩn phân xuất âm vị học theo 4 quy tắc của Trubetzkoy; và cơ chế vẽ đường đồng ngữ âm vị. Chương này trình bày chi tiết quy trình thực nghiệm âm học trên phần mềm Praat để trích xuất các chỉ số VOT, F0, Formant F1-F2, H1-H2. Về thực tiễn tộc người, tác giả trình bày lịch sử cư trú và bối cảnh xã hội của người Chơ Ro tại vùng đồi núi thấp Đông Nam Bộ (Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận), xác định tiếng Chơ Ro thuộc nhóm Ba Na Nam, chi Môn-Khmer, ngữ hệ Nam Á, mang loại hình ngôn ngữ đơn lập với cấu trúc từ một âm tiết rưỡi (sesquisyllabic).

Chương 2. Sự khác biệt ngữ âm học giữa các phương ngữ Chơ Ro ở Xuân Lộc, Châu Đức và Định Quán

Chương 2 là chương nội dung thực nghiệm trọng tâm, phân tích chi tiết sự khác biệt ngữ âm qua các thành phần cấu trúc:

  • Cấu trúc âm tiết và tiền âm tiết: Cấu trúc âm tiết tiếng Chơ Ro gồm tiền âm tiết và âm tiết chính. Tiền âm tiết ở phương ngữ Xuân Lộc có xu hướng dị hóa phụ âm đầu (ví dụ: dave "dê", kacăt "lạnh"), trong khi phương ngữ Châu Đức và các vùng khác có hiện tượng đồng nhất phụ âm đầu (pave, cacăt). Trường độ tiền âm tiết rất ngắn (ví dụ nguyên âm [i] trong từ [bipil] "say" có trường độ chỉ 0,08 giây).
  • Âm tiết chính:
    • Phụ âm đầu: Xuất hiện các biến thể dị biệt rõ rệt tại Túc Trưng (Định Quán): âm vị /r/ ở Xuân Lộc và Châu Đức ([raw] "rửa") chuyển thành biến thể [g] ([gaw]), phụ âm đầu /g/ chuyển thành [k], xuất hiện phụ âm thanh hầu hóa [ʔj], và tồn tại tổ hợp phụ âm tiền mũi [hn-] (như [hndu] "người", [hndeh] "phương tiện", [hmva] "năm").
    • Nguyên âm: Khảo sát giá trị F1, F2 và trường độ cho thấy các nguyên âm ngắn ở một số biến thể có xu hướng lùi vào trung tâm hình thang nguyên âm; hệ thống duy trì thế đối lập trường độ nguyên âm dài - ngắn.
    • Phụ âm cuối: Phụ âm /n/ xuất hiện biến thể môi hóa [nʷ] tại Châu Đức (như từ [ləpoːnʷ] "cửa"); có sự phân hóa giữa phụ âm rung cuối [r] và bán âm [j] (như cặp từ [nar] "ngày" và [naj] "ngay").
  • Quá trình đơn tiết hóa: Luận án xác định tỷ lệ từ đa tiết/song tiết trong tiếng Chơ Ro là 23,57% (so với Cơ Ho 31,43%, Xtiêng 22,50%, Mnông 16,07%), giải thích cơ chế rút gọn tiền âm tiết theo quy luật Iambic-Trochaic trong nhóm Ba Na Nam.
  • Hệ thống âm vực: Phân tích các thông số âm học VOT, F0, H1*-H2* (đoạn 200 ms đầu) và trường độ nguyên âm sau các phụ âm tắc vô thanh và hữu thanh để làm rõ trạng thái đối lập âm vực và xu hướng vô thanh hóa phụ âm đầu.

Chương 3. Phân vùng 3 phương ngữ Chơ Ro trên cơ sở ngữ âm

Chương 3 áp dụng phương pháp trắc học phương ngữ để xử lý dữ liệu không gian:

  • Thiết lập bản đồ phương ngữ: Dựa trên ma trận khoảng cách ngữ âm và khoảng cách địa lý (tính bằng km giữa Xuân Lộc, Châu Đức và Định Quán), tác giả xây dựng bản đồ đường đồng ngữ âm vị phân định 3 vùng phương ngữ.
  • Phân tích không gian đa biến: Sử dụng biểu đồ MDS và biểu đồ nhánh (dendrogram) để xác lập mức độ tương đồng và sai biệt ngữ âm giữa các vùng; làm rõ mối tương quan giữa khoảng cách địa lý và khoảng cách ngữ âm.
  • Phân bố biến thể theo nhân tố xã hội: Phân tích sự phân bố của biến thể phụ âm và nguyên âm theo 2 nhóm tuổi (18-45 và 46-65) và giới tính (nam, nữ). Kết quả khẳng định phương ngữ Xuân Lộc là phương ngữ trung tâm/cơ sở đại diện, trong khi phương ngữ Định Quán (Túc Trưng) có mức độ phân ly và dị biệt ngữ âm cao nhất.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:

    1. Cung cấp bức tranh miêu tả chi tiết, toàn diện về hệ thống ngữ âm và các biến thể ngữ âm của 3 phương ngữ tiếng Chơ Ro (Xuân Lộc, Châu Đức, Định Quán) dựa trên nguồn cứ liệu âm thanh thực nghiệm đo đạc bằng phần mềm Praat, khắc phục phương pháp thẩm âm thính giác đơn thuần của các nghiên cứu trước đây.
    2. Kế thừa, kiểm chứng và bổ sung hệ thống âm vị học của David Thomas (1960, 1967, 1971) và Trần Quang Vinh (2005); làm sáng tỏ các hiện tượng dị hóa tiền âm tiết, biến thể phụ âm đầu (/r/ > [g], /g/ > [k], tổ hợp [hn-]), cấu trúc một âm tiết rưỡi và tỷ lệ đơn tiết hóa (23,57%) trong mối liên hệ với các ngôn ngữ Ba Na Nam.
    3. Ứng dụng phương pháp trắc học phương ngữ và kỹ thuật phân tích không gian đa biến để lượng hóa khoảng cách ngữ âm, xác lập các bó đường đồng ngữ âm vị và số hóa bản đồ 3 vùng phương ngữ Chơ Ro.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị:

    1. Bổ sung nguồn ngữ liệu âm thanh và các bảng từ phiên âm IPA (gồm Bảng từ Swadesh 281 từ, Bảng khảo sát 1626 từ vùng Xuân Lộc và 4 bảng đối chiếu thành phần âm tiết ở phần Phụ lục) phục vụ cho nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc thiểu số và biên soạn từ điển tiếng Chơ Ro.
    2. Cung cấp căn cứ khoa học cho việc đề xuất phương ngữ chuẩn (phương ngữ Xuân Lộc) phục vụ công tác xây dựng chữ viết, biên soạn sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy song ngữ Chơ Ro - Việt tại các trường phổ thông vùng đồng bào thiểu số.
    3. Cung cấp dữ liệu về độ lệch chuẩn ngữ âm giữa các vùng, giúp đồng bào Chơ Ro nhận thức được sự khác biệt giọng nói địa phương nhằm khắc phục các trở ngại trong giao tiếp thực tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát đồng đại tại 3 địa bàn đại diện (Xuân Lộc, Định Quán thuộc Đồng Nai và Châu Đức thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu); chưa bao quát được các vùng cư trú lịch sử khác của người Chơ Ro (như khu vực Bình Tuy cũ thuộc tỉnh Bình Thuận). Về phương ngữ xã hội, nghiên cứu mới chỉ phân tích hai biến số là giới tính và hai nhóm tuổi (18-45 và 46-65), chưa đi sâu vào các yếu tố học vấn hay nghề nghiệp.

  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn điền dã đến các cộng đồng người Chơ Ro tại Bình Thuận; kết hợp nghiên cứu lịch đại và so sánh loại hình sâu hơn với các ngôn ngữ trong nhánh Ba Na Nam; triển khai các thử nghiệm ngữ âm tri giác (perception) để đo đạc chính xác mức độ thông hiểu lẫn nhau (mutual intelligibility) giữa các phương ngữ.


Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:

    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học các dân tộc thiểu số Việt Nam, Ngữ âm học thực nghiệm và Phương ngữ học.
    • Các nhà nghiên cứu dân tộc học, nhân học văn hóa vùng Đông Nam Bộ.
    • Các nhà hoạch định chính sách giáo dục dân tộc, ban dân tộc các tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu trong công tác bảo tồn văn hóa - ngôn ngữ thiểu số.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:

    • Quy trình thiết kế câu mẫu kiểm tra (frame sentence) và kỹ thuật đo đạc các thông số VOT, F0, Formant F1-F2, H1*-H2*, trường độ trên Praat.
    • Bảng đối chiếu tiền âm tiết, phụ âm đầu, nguyên âm, phụ âm cuối (Phụ lục 1, 2, 3, 4) và Bảng từ phiên âm IPA 1626 từ phương ngữ Xuân Lộc (Phụ lục 7).
    • Phương pháp trắc học phương ngữ ứng dụng phân tích MDS và xây dựng bản đồ đường đồng ngữ âm vị.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án chọn mẫu khảo sát điền dã với số lượng bao nhiêu và phân bố theo tiêu chí nào?
Luận án khảo sát tổng cộng 72 cộng tác viên (36 nam, 36 nữ), phân bố đều tại 3 địa bàn: thị trấn Ngãi Giao (Châu Đức - 24 người), xã Túc Trưng (Định Quán - 24 người), và xã Xuân Trường (Xuân Lộc - 24 người). Mỗi địa bàn gồm 12 người thuộc nhóm 18-45 tuổi (6 nam, 6 nữ) và 12 người thuộc nhóm 46-65 tuổi (6 nam, 6 nữ). Các cộng tác viên sinh ra và cư trú tối thiểu 4 năm tại địa phương, gia đình thuần Chơ Ro, cơ quan phát âm bình thường và dùng tiếng Chơ Ro làm ngôn ngữ giao tiếp chính.

2. Kỹ thuật thu âm và phân tích thực nghiệm âm học được tiến hành bằng công cụ và câu mẫu nào?
Nghiên cứu sử dụng micrô Shure SM 58-LC kết hợp Card âm thanh Roland Tri Capture, ghi âm bằng phần mềm Cool Edit Pro 2.1 (lưu định dạng *.wav) với tổng thời lượng 120 giờ. Dữ liệu được phân tích trên phần mềm PRAAT phiên bản 6. Từ kiểm tra (X) được đặt trong câu mẫu: "an paj X ru: ru: an gru: can" (Tôi nói X chậm chậm cho thầy nghe), mỗi từ được cộng tác viên đọc lặp lại 3 lần theo trật tự ngẫu nhiên.

3. Phương ngữ Chơ Ro ở Túc Trưng (Định Quán) có những biến thể ngữ âm đặc trưng nào?
Tại Túc Trưng (Định Quán), âm vị phụ âm đầu /r/ chuyển thành biến thể [g] (như [gaw] "rửa"), phụ âm đầu /g/ chuyển thành [k], xuất hiện phụ âm thanh hầu hóa [ʔj], và tồn tại các tổ hợp phụ âm tiền mũi [hn-] (như trong các từ [hndu] "người", [hndeh] "phương tiện", [hmva] "năm"). Ngoài ra, khu vực này còn có sự xuất hiện của các âm tắc - xát.

4. Tỷ lệ từ đa tiết của tiếng Chơ Ro là bao nhiêu trong tương quan với các ngôn ngữ Ba Na Nam khác?
Theo số liệu trích dẫn từ Lê Khắc Cường (2000) trong luận án, tỷ lệ từ đa tiết của tiếng Chơ Ro chiếm 23,57%, đứng thứ hai trong nhóm Ba Na Nam, xếp sau tiếng Cơ Ho (31,43%), cao hơn tiếng Xtiêng (22,50%) và tiếng Mnông (16,07%). Điều này phản ánh tiếng Chơ Ro có xu hướng đơn tiết hóa mạnh hơn Cơ Ho nhưng chậm hơn so với Mnông và Xtiêng.

5. Luận án đề xuất phân chia tiếng Chơ Ro thành mấy vùng phương ngữ và phương ngữ nào làm đại diện?
Luận án đề xuất phân chia tiếng Chơ Ro thành 3 vùng phương ngữ: Xuân Lộc (Đồng Nai), Châu Đức (Bà Rịa - Vũng Tàu), và Định Quán (Đồng Nai). Trong đó, phương ngữ Xuân Lộc được xác định là phương ngữ trung tâm/cơ sở đại diện cho tiếng Chơ Ro do tính chất trung tâm văn hóa - kinh tế lâu đời và tính chuẩn mực về diện mạo ngữ âm.


Kết luận

Luận án "Hệ thống ngữ âm các phương ngữ Châu Ro" của nghiên cứu sinh Nguyễn Trần Quý đã miêu tả hệ thống ngữ âm của ba phương ngữ Chơ Ro tại Xuân Lộc, Định Quán và Châu Đức dựa trên nguồn dữ liệu điền dã 72 cộng tác viên với 120 giờ thu âm. Bằng sự kết hợp giữa phương pháp miêu tả cấu âm, ngữ âm học thực nghiệm (phần mềm Praat) và phương pháp trắc học phương ngữ, luận án đã xác lập các biến thể thành phần âm tiết, phân tích đặc trưng âm vực và số hóa bản đồ đường đồng ngữ âm vị. Kết quả nghiên cứu bổ sung nguồn ngữ liệu đáng tin cậy cho ngôn ngữ học Nam Á tại Việt Nam, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác chuẩn hóa chữ viết và giáo dục song ngữ cho cộng đồng người Chơ Ro.