CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP TIẾNG VIỆT 1.1 Tổng quan về xử lý ngôn ngữ tiếng Việt Gần đây, vấn đề xử lý ngôn ngữ và xử lý tiếng Việt được các nhà khoa học hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin ở trong nước quan tâm. Các sản phẩm tiêu biểu về xử lý tiếng Việt như: bộ gõ tiếng việt Vietkey, từ điển Anh- Việt, Việt-Anh, hay phần mềm dịch song ngữ EVTRAN, phần mềm nhận dạng chữ Việt vnDOC,… là những sản phẩm đã được người sử dụng biết đến. Tuy nhiên, các công cụ hỗ trợ trong lĩnh vực giao tiếp người máy như nhận dạng và tổng hợp tiếng Việt với các kết quả còn hạn chế. Có rất nhiều lý do, nhưng lý do cơ bản là có quá ít các nghiên cứu cơ sở, nền tảng và nếu có thì thường là những nghiên cứu ngắn hạn, đơn lẻ dưới dạng các đề tài tốt nghiệp, thạc sĩ trong các trường đại học, thiếu sự kế thừa và thiếu trang thiết bị.
Kết quả, cho tới nay chúng ta vẫn chưa có những bộ cơ sở dữ liệu nào là chuẩn và đầy đủ cho các vấn đề liên quan đến xử lý ngôn ngữ tiếng Việt, mà những vấn đề này ở nước ngoài đã được phát triển từ rất lâu và đã được cộng đồng quốc tế xác định là không thể thiếu trong xử lý ngôn ngữ. Hiện tại, một số sản phẩm được thực hiện mới dừng lại ở mức mô hình, thử nghiệm và tiến hành trên những tập ngữ liệu nhỏ, chưa đầy đủ. Hơn nữa, các nỗ lực của chúng ta chưa được liên kết với nhau, thiếu tính chia sẻ kế thừa, hợp tác theo một lộ trình có kế hoạch. Nếu hình dung các công đoạn của vấn đề xử lý ngôn ngữ được đánh số từ A đến Z, thì hầu hết các sản phẩm làm ra cho người dùng cuối đều ở khoảng từ R, S,… trở đi, mà muốn có kết quả tốt trong giai đoạn này thì nhất thiết phải cần tới kết quả của tất cả các bước từ A đến P, Q.
Như vậy, hiện tại nếu chúng ta muốn có một sản phẩm thì phải làm tất cả các công đoạn từ A đến P, Q đến Z như thế không ai có thể khẳng định chắc chắn sản phẩm R, S,…, Z làm được là đủ tốt. Đinh Đồng Lưỡng – Lớp Cao học XLTT&TT 2007 TỔNG HỢP TIẾNG VIỆT CHẤT LƯỢNG TỐT Trang 4 1.2 Các nghiên cứu về tổng hợp tiếng Việt Ở trong nước, có thể kể đến những tập thể đã có những kết quả nghiên cứu về tổng hợp tiếng Việt như Viện Công nghệ Thông tin, Khoa Công nghệ Thông tin và Trung tâm nghiên cứu quốc tế Thông tin đa phương tiện, truyền thông và ứng dụng (MICA) - Đại học Bách khoa Hà Nội và kết quả của một số trường Đại học là những đề tài tốt nghiệp, thạc sĩ hay tiến sĩ mang tính chất nghiên cứu và tìm hiểu. Nghiên cứu về xử lý ngôn ngữ đã được theo đuổi từ khá lâu bởi một số tập thể như Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Khoa học Tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Bách khoa Đà Nẵng, Trường Đại học Công nghệ, Viện Ứng dụng Công nghệ, Viện Công nghệ Thông tin, Công ty Lạc Việt,… và Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu phát triển công nghệ nhận dạng, tổng hợp và xử lý ngôn ngữ tiếng Việt” giai đoạn 2001-2004 trong chương trình quốc gia KC-01. Ở nước ngoài, có thể kể tới nhóm nghiên cứu tại Canada của tiến sĩ Lê Tang Hồ với phần mềm tổng hợp tiếng Việt có tên Vietvoice, và một số nghiên cứu của các cán bộ và nghiên cứu sinh Việt Nam tại Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật bản (JAIST).
Xử lý ngôn ngữ tiếng Việt nói chung và tổng hợp tiếng nói tiếng Việt nói riêng là những vấn đề chỉ có thể làm tốt được bởi chính người Việt chúng ta. Hiện nay, đã có một số sản phẩm tổng hợp tiếng Việt như VietVoice, vnVoice, VieTTS hay VnSpeech do người Việt và một số người Việt Nam ở nước ngoài làm ra và đã có những kết quả bước đầu. Tuy nhiên, vấn đề nâng cao chất lượng tổng hợp của các sản phẩm cho người dùng là cái đích cuối cùng mà ta cần hướng tới. Qua nhiều năm nghiên cứu, tìm hiểu về tổng hợp, đồng thời mong muốn góp một phần xây dựng hệ tổng hợp tiếng Việt, chúng tôi muốn hướng tới hệ tổng hợp tiếng Việt chất lượng tốt trong đó vấn đề chất lượng thanh điệu được đưa lên hàng đầu.
Đinh Đồng Lưỡng – Lớp Cao học XLTT&TT 2007 TỔNG HỢP TIẾNG VIỆT CHẤT LƯỢNG TỐT Trang 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XỬ LÝ TIẾNG NÓI 2. Quá trình phát âm Tiếng nói là một phương tiện trao đổi thông tin của con người. Tiếng nói được tạo ra từ quá trình tư duy của con người và trung khu thần kinh điều khiển hệ thống phát âm làm việc tạo ra âm thanh. Tiếng nói được phân biệt với các âm thanh khác bởi các đặc tính âm học có nguồn gốc từ cơ chế tạo tiếng nói.
Về bản chất, tiếng nói là sự dao động của sóng âm có mang theo thông tin. Các dao động này tạo thành những áp lực đến hệ thống thích giác, được hệ thống thích giác phát hiện, phân tích và chuyển kết quả đến trung khu thần kinh. Lúc này tại trung khu thần kinh, thông tin được tái tạo lại dưới dạng tư duy logic mà con người có thể hiểu được. Tín hiệu tiếng nói được tạo thành bởi chuỗi các âm vị liên tiếp.
Sự sắp xếp của các âm vị được chi phối bởi các quy tắc của ngôn ngữ. Việc nghiên cứu một cách chi tiết về những quy tắc này cũng như những khía cạnh khác bên trong tiếng nói thuộc về chuyên ngành ngôn ngữ. Việc phân loại các âm vị của tiếng nói thuộc về chuyên ngành ngữ âm học. Khi nghiên cứu các mô hình toán học của cơ chế tạo tiếng nói, việc nghiên cứu về các âm vị là rất cần thiết.
Nắp đóng của thanh quản 11. Dây thanh giả 12. Khí quản Hình 2.1 – Cơ quan phát âm Đinh Đồng Lưỡng – Lớp Cao học XLTT&TT 2007 TỔNG HỢP TIẾNG VIỆT CHẤT LƯỢNG TỐT Trang 6 Khi phát âm, không khí được đẩy từ phổi qua khí quản, luồng không khí chuyển động làm cho dây thanh rung kết hợp với hình dạng của tuyến âm, môi, lưỡi. đóng vai trò như các bộ cộng hưởng và các bộ lọc sẽ tạo ra các âm thanh khác nhau.
Người ta có thể mô hình hóa toàn bộ quá trình phát âm bởi các mô hình toán học khác nhau. Đặc tính âm học của tiếng nói 2. Âm hữu thanh và âm vô thanh 2. Âm hữu thanh Âm hữu thanh được tạo ra từ các dây thanh bị căng đồng thời, chúng rung động ở chế độ dãn, khi không khí tăng lên làm thanh môn mở ra và sau đó thanh môn xẹp xuống do không khí chạy qua.
Do sự cộng hưởng của dây thanh, sóng âm tạo ra có dạng tuần hoàn hoặc gần như tuần hoàn. Phổ của âm hữu thanh có nhiều thành phần hài tại giá trị bội số của tần số cộng hưởng, còn gọi là tần số cơ bản (pitch). Âm vô thanh Khi tạo ra âm vô thanh dây thanh không cộng hưởng. Âm vô thanh có hai loại cơ bản là âm xát và âm tắc.
Âm xát (ví dụ như âm s) được tạo ra khi có sự co thắt tại vài điểm trong tuyến âm. Không khí khi đi qua điểm co thắt sẽ chuyển thành chuyển động hỗn loạn tạo nên kích thích giống như nhiễu ngẫu nhiên. Thông thường điểm co thắt xảy ra gần miệng nên sự cộng hưởng của tuyến âm ảnh hưởng rất ít đến đặc tính của âm xát được tạo ra. Âm tắc (ví dụ như âm p) được tạo ra khi tuyến âm đóng tại một số điểm làm cho áp suất không khí tăng lên và sau đó được giải phóng đột ngột.
Sự giải phóng đột ngột này tạo ra kích thích nhất thời của tuyến âm. Sự kích thích này có Đinh Đồng Lưỡng – Lớp Cao học XLTT&TT 2007 TỔNG HỢP TIẾNG VIỆT CHẤT LƯỢNG TỐT Trang 7 thể xảy ra với sự cộng hưởng hoặc không cộng hưởng của dây thanh tương ứng với âm tắc hữu thanh hoặc vô thanh. Âm vị Tín hiệu tiếng nói là tín hiệu tương tự biểu diễn cho thông tin về mặt ngôn ngữ và được mô tả bởi các âm vị khác nhau. Như vậy, âm vị là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ.
Tuỳ theo từng ngôn ngữ cụ thể mà số lượng các âm vị nhiều hay ít (thông thường số lượng các âm vị vào khoảng dưới 50). Các âm vị được chia thành hai loại: nguyên âm và phụ âm. Nguyên âm Nguyên âm là âm hữu thanh được tạo ra bằng sự cộng hưởng của dây thanh khi dòng khí được thanh môn đẩy lên. Khoang miệng được tạo lập thành nhiều hình dạng nhất định tạo thành các nguyên âm khác nhau.
Số lượng các nguyên âm phụ thuộc vào từng ngôn ngữ nhất định. Phụ âm Phụ âm được tạo ra bởi các dòng khí hỗn loạn được phát ra gần những điểm co thắt của đường dẫn âm thanh do cách phát âm tạo thành. Phụ âm có đặc tính hữu thanh hay vô thanh tuỳ thuộc vào việc dây thanh có dao động để tạo nên cộng hưởng hay không. Dòng không khí tại chỗ đóng của vòm miệng tạo ra phụ âm tắc.
Phụ âm xát được phát ra từ chỗ co thắt lớn nhất. Các đặc tính khác 2. Tỷ suất thời gian Trong khi nói chuyện, khoảng thời gian nói và khoảng thời gian nghỉ xen kẽ nhau. Tỷ lệ % thời gian nói trên tổng số thời gian nói và nghỉ được gọi là tỷ suất thời gian.
Giá trị này biến đổi tuỳ thuộc vào tốc độ nói và từ đó ta có thể phân loại thành nói nhanh, nói chậm hay nói bình thường. Đinh Đồng Lưỡng – Lớp Cao học XLTT&TT 2007 TỔNG HỢP TIẾNG VIỆT CHẤT LƯỢNG TỐT Trang 8 2. Hàm năng lượng thời gian ngắn Hàm năng lượng thời gian ngắn của tiếng nói được tính bằng cách chia tín hiệu tiếng nói thành nhiều khung, mỗi khung chứa N mẫu. Các khung này được đưa qua một cửa sổ có dạng hàm như sau: W(n ) Với 0 ≤ n ≤ N W (n ) = 0 Với n ≥ N Hàm năng lượng ngắn tại mẫu thứ m được tính theo công thức sau: N −1 Em = ∑ { x( n + m) ∗ W (n )} 2 n= 0 Thông thường có ba dạng cửa sổ được sử dụng đó là cửa sổ Hamming, cửa sổ Hanning và cửa sổ chữ nhật.
Hàm năng lượng thời gian ngắn của âm hữu thanh thường lớn hơn so với âm vô thanh.