Chương 1. Lịch sử van dé và Cơ sở lý thuyết Trong phan lich sử van đề, chúng tôi tổng kết lại các khuynh hướng nghiên cứu về thành phan “chủ ngữ” nói riêng, kết cấu “chủ- vị” nói chung của các tác giả trong nước và trên thế giới. Trong đó, chúng tôi đặc biệt nhắn mạnh đến các nghiên cứu gần đây theo khuynh hướng đặt ra nghi vấn “có hay không có chủ ngữ trong tiếng Việt”. Phần Cơ sở lý thuyết trình bày tập trung vào lý thuyết chính của luận án: Lý thuyết điển mẫu.
Thông qua việc tóm tắt các công trình nghiên cứu lý thuyết điển mẫu trên thế giới và trong nước, đồng thời tham khảo một số áp dụng của lý thuyết điển mẫu vào nghiên cứu cú pháp, chúng tôi đề xuất cách áp dụng lý thuyết điển mẫu trong nghiên cứu thành phần chủ ngữ tiếng Việt. Cơ sở xác lập và bộ tiêu chí xác định chủ ngữ điển mẫu Chương này trình bày các bộ tiêu chí được luận án lay lam nén tảng (bộ tiêu chí của Keenan, Dyvik, các tác giả Việt ngữ học.), đồng thời xây dựng nên bộ tiêu chí thích hợp để xác định chủ ngữ điển mẫu trong câu tiếng Việt gồm 3 nhóm tiêu chi là: tiêu chí ngữ pháp, tiêu chí ngữ nghĩa, và tiêu chí ngữ dụng. Các trường hợp chủ ngữ điển mẫu trong câu tiếng Việt Thông qua số liệu thống kê và miêu tả các ví dụ, luận án tổng hợp lại các kiêu câu có chủ ngữ đáp ứng được day đủ các tiêu chí dé ra trong bộ tiêu chí điển mẫu. Các trường hợp này sẽ được khảo sát cụ thể ở tất cả các bình diện.
Các trường hợp chủ ngữ không điển mẫu trong câu tiếng Việt Chương nảy sẽ miêu tả, phân tích và gom nhóm các trường hợp chủ ngữ không phải là chủ ngữ điển mẫu (không đáp ứng được đầy đủ các tiêu chí). Thông qua việc miêu tả và phân tích trên cả 3 bình diện, các trường hợp chủ ngữ này sẽ được sắp xếp theo thang độ (có 5 cấp độ từ gần tâm đến xa tâm) tùy theo số lượng tiêu chí mà chúng đáp ứng được. Từ đó, chúng tôi xây dựng sơ đồ (từ tâm ra biên) của các thành viên điện mau và phi điên mẫu trong phạm trù chủ ngữ. LICH SỬ VAN DE VA CƠ SỞ LÝ THUYET 1.
Cac khuynh hướng nghiên cứu “chủ ngữ” trong các trường phái ngôn ngữ học 1. Khuynh hướng cỗ điển Thuật ngữ chủ ngữ xuất hiện trong các tác phẩm về logic hình thức của Aristotle từ những năm 300 trước công nguyên. “Băng việc sáng lập ra logic học và gan liền với nó là việc nghiên cứu sự biểu đạt tư duy bằng ngôn ngữ, Aristotle là người sáng lập ra ngữ pháp học logic mà ngày nay, người ta còn thay ảnh hưởng sâu đậm trong ngữ pháp nhà trường cũng như trong ngữ pháp khoa học ở châu Âu và thế giới” [64: 153]. Trong đó, chủ ngữ (hay chủ từ) được hiểu như một trong hai bộ phận cấu thành nên phán đoán gồm S (subject — chủ ngữ) và P (predicate — vị ngữ) được viết dưới dạng S la/khong là P.
Tuy nhiên, cần phải hiểu rang, vào thời kì của Aristotle, khi bàn về ngôn ngữ người ta chưa đưa ra một khái niệm về chủ ngữ một cách cụ thể, mà chỉ đề cập đến thuật ngữ mả sau này được hiểu như chủ ngũ/chủ từ, đó là ónóma. Sở đĩ Aristotle cho rằng “ónóma và réma đã phần nào mang ý nghĩa của danh từ và động từ, vì ông đã dựa vào những tiêu chí hình thai học; réma có ý nghĩa độc lập, kèm theo sắc thái về thời gian, còn ónóma thì không có sắc thái về thời gian, mà là những tên gọi thuộc giống đực, giống cái hay giống trung. Tuy vậy, ở nhiều chỗ, réma bao gồm cả tính từ vẫn được tác giả coi như “vị ngữ” (dùng thuật ngữ của ngôn ngữ học hiện đại) và ónóma cũng vẫn mang ý nghĩa của chủ ngữ. Không tách biệt từ loại và chức năng cú pháp là một trong những đặc điểm của ngữ pháp học thời này” [64: 151].
Trong một thời ki dai, logic học có ảnh hưởng một cách trực tiếp đến cách phân tích và lí giải về ngôn ngữ. Đặc biệt đến thế kỉ 17, do ảnh hưởng của logic học Aristotle, sự ra đời của cuốn “Ngữ pháp tổng quát và duy lý” do Arnauld và Lancelot — 2 nhà giáo của tu viện Port-Royal - soạn năm 1660 đánh dấu một bước ngoặt của ngữ pháp học, mà cũng là của ngôn ngữ học châu Âu. Hai tác giả Arnauld và Lancelot đã đề cập đến thuật ngữ “chủ từ” (tương ứng với cách gọi “chủ ngữ” hiện tại) với tư cách là một thành tố của phán đoán “Phán đoán mà ta tiến hành đối với các vật như khi tôi nói quả đất tron (la terre est ronde), gọi là MENH DE; và thế là mọi mệnh đề bao gồm hai thành phần: một là chủ từ, là cái được ta khăng định, như quá dat chang hạn; và hai là thuật từ (attribut) là điều mà người ta khang định như tron chang hạn: ngoài ra còn mối nối giữa hai thành phan là est”. Mặc dù không chú ý nhiều đến cú pháp ngôn ngữ mà chỉ chú ý đến cú pháp phán đoán, các tác giả cũng đã nêu ra một số quan điểm về thành phần gọi là chủ ngữ và các quy tắc liên quan đến chủ cách như sau: - Không bao giờ ta gặp chủ cách mà không có quan hệ với một động từ nào đó.
- Không có động từ nếu không có chủ cách của nó, du là được biểu lộ hay được hiểu ngầm là có. Bởi vì thuộc tính của động từ là bày tỏ sự khẳng định, cho nên đòi hỏi chủ từ phải được khang định. Theo đó, ngữ pháp Port-Royal đã đồng nhất ngôn ngữ với tư duy, logic, đồng nhất câu và phán đoán, đồng nhất chủ ngữ của câu với chủ từ của phán đoán, cũng như đồng nhất vị ngữ của câu với vị từ (thuật từ) của phán đoán. Điều này cũng thể hiện một cái nhìn hình thái học đối với phạm trù “chủ ngữ”.
Tuy nhiên, như ngày nay mọi người đều biết, tư duy và ngôn ngữ, logic và ngữ pháp không thé đồng nhất mặc dù giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ. Việc áp dụng một ngữ pháp phổ quát cho mọi ngôn ngữ cũng là một điều không thé. Ngữ pháp Port-Royal chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu một vài thứ tiếng châu Âu mà lại khái quát lên cho mọi ngôn ngữ là một điều hết sức sai lầm và dẫn đến nhiều mâu thuẫn về sau. Tuy vậy, ngữ pháp Port-Royal cũng đã chứng tỏ được tầm ảnh hưởng của mình cả về bề rộng và bề dài lịch sử về sau.
Bằng chứng là trong suốt thế kỷ XVIII, “mọi công trình ngôn ngữ hay triết lý — ngôn ngữ ở thé kỷ này đều mang theo ảnh hưởng của ngữ pháp Port-Royal” dưới dạng này hay dạng khác [64: 315]. Chang hạn, về khái niệm chủ ngữ/chủ từ, tác giả Duy Macxe (Các nguyên lý ngữ pháp học) đã lập luận: chủ từ phải đặt trước động từ vì “tự nhiên và lí trí dạy ta rằng: 1/Cần tồn tại mới có thé hoạt động; 2/cần tồn tại mới có thé là đối tượng của một hoạt động nao đó; 3/cần tồn tại trong hiện thực hay trong sự tưởng tượng thì mới có thé định nghĩa được” [64: 320] hay Vico cho rằng “mệnh đề cần phải có một chủ từ” nên “danh từ ra đời dần dần, trước động từ. Động từ xuất hiện sau cùng” [64: 341]. Khuynh hướng ngữ pháp duy lý Port-Royal cũng đã có những ảnh hưởng sâu rộng đến ngữ pháp tiếng Việt thời kì đầu tiên.
Tuy nhiên, khuynh hướng tâm lý tự nhiên của ngôn ngữ học lí thuyết về sau đã bắt đầu có sự thay đổi. Không đồng nhất ngôn ngữ với tư duy (mà chỉ xem ngôn ngữ là công cụ tạo nên tư tưởng, là phương tiện cơ bản của tư duy và của ý thức) nên Potebnja không tán thành quan điểm của trường phái logic về quan hệ giữa câu và mệnh đề (phán đoán) và cho rằng mệnh đề ngữ pháp nói chung không đồng nhất với mệnh đề logic ({64: 453]. Bởi vậy ông thừa nhận những mô hình câu không chủ ngữ: “Sự phát triển của câu không chủ ngữ chứng tỏ cố gắng thay thế danh từ ngay cả khi nó làm chủ ngữ. Vi dụ Gremit! (Sam vang).
Câu không chủ ngữ hiện còn ít nhưng theo sự phát triển của ngôn ngữ, loại câu ấy sẽ nhiều thêm”. Bên cạnh đó, ông cho rằng đặc điểm của chủ ngữ là danh cách của động từ (dẫn theo Nguyễn Kim Than [64: 453]). Cách tiếp cận cấu trúc cú pháp câu từ góc độ hình thái hoc, định nghĩa chủ ngữ là “danh ngữ có hình thái ở danh cách” đã đề cập đúng cương vị ngữ pháp của chủ ngữ trong câu, tức là chủ ngữ ngữ pháp. Mặc dù vậy, do không phải ngôn ngữ nảo cũng có hiện tượng biến cách của danh từ và hình thức nhân xưng của động từ nên đây không phải là một đặc điểm phố quát.
Cuối thé ki XIX dau thế ki XX, với sự phát triển của khuynh hướng Ngữ pháp trẻ với trường phái Laixich, trên quan điểm tâm lý học, Fortunatov có cách tiép cận độc dao vê cú pháp hoc. Môi quan hệ của các biêu tượng với nhau thường được gọi là các phán đoán tâm lí, trong đó có thể chia làm 2 phần: phần thứ nhất “do phần thứ hai tiền giả định, gọi là chủ ngữ tâm lý”, và phần thứ hai “trong mối quan hệ với phần thứ nhất, gọi là vị ngữ tâm lý”. Chủ ngữ tâm lý là biểu tượng hay phức thé biểu tượng hiện ra trước tiên trong ý thức của người nói hay người nghe. “Từ góc nhìn của ngôn ngữ, mỗi phán đoán tâm lý gồm có ba yếu tố: 1) biểu tượng của đối tượng tư tưởng thứ nhất thuộc phạm trù sự vật tính; 2) biểu tượng của đối tượng thứ hai (thường thuộc phạm trù vận động); 3) quan hệ hay sự khuyết quan hệ của các đối tượng ấy.
Hình thức biểu đạt phán đoán tâm lý là câu. Song phân tích câu về mặt ngữ pháp có thé không trùng hợp với phân tích phán đoán tâm lý. Vi dụ: phán đoán tâm ly NN priekhal iz Moskvy (NN từ Moskva tới) có chủ ngữ tâm ly “NN priekhal” (sự kiện đã biết), và vị ngữ tâm lý “iz Moskvy” (nêu điều mới) [64: 471]. Nhưng phán đoán “Priekhal NN” lại có Priekhal là chủ ngữ tâm lý (điều đã biết) và NN (thông báo mới) là vị ngữ tâm lý, hay khi priekhal NN tham gia vào vi ngữ tâm lý thì chủ ngữ tâm lý lại là một biểu tượng ở ngoài ngôn ngữ.