Luận án tiến sĩ: Khảo sát chủ ngữ tiếng Việt dưới góc nhìn lý thuyết điển mẫu

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ngôn ngữ học khảo sát chủ ngữ tiếng việt dưới góc nhìn của lý thuyết điển mẫu, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực tại

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lý Luận Ngôn Ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2011

211
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ VẤN ĐỀ VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Các khuynh hướng nghiên cứu “chủ ngữ” trong các trường phái ngôn ngữ học

1.2. Khuynh hướng cổ điển

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ XÁC LẬP VÀ BỘ TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH CHỦ NGỮ ĐIỂN MẪU

2.1. Cơ sở xác lập bộ tiêu chí

2.2. Bộ tiêu chí xác định chủ ngữ tổng quát của Keenan

2.3. Bộ tiêu chí xác định chủ ngữ của H.

2.4. Bộ tiêu chí xác định chủ ngữ tiếng Việt của các tác giả nghiên cứu

2.5. Tiêu chí về đặc điểm ngữ pháp nói chung

2.6. Tiêu chí về vị trí và hình thức biểu đạt

3. CHƯƠNG 3: CÁC TRƯỜNG HỢP CHỦ NGỮ ĐIỂN MẪU TRONG CÂU TIẾNG VIỆT

3.1. Chủ ngữ điển mẫu của các câu có hệ từ “là”

3.2. Các loại chủ ngữ điển mẫu trong câu có hệ từ “là”

3.3. Các tiêu chí ngữ pháp

3.4. Các tiêu chí ngữ nghĩa và ngữ dụng

3.5. Chủ ngữ điển mẫu của các câu không có hệ từ “là” (các câu có trật tự SV(O) thông thường)

3.6. Các vai nghĩa của chủ ngữ điển mẫu

4. CHƯƠNG 4: CÁC TRƯỜNG HỢP CHỦ NGỮ KHÔNG ĐIỂN MẪU TRONG CÂU

4.1. Chủ ngữ không điển mẫu của các câu có hệ từ “là”

4.2. Chủ ngữ được cấu tạo bởi động từ/tính từ

4.3. Chủ ngữ được cấu tạo bởi một kết cấu C-V

4.4. Chủ ngữ được cấu tạo bởi giới từ hoặc ngữ giới từ

4.5. Chủ ngữ không điển mẫu của các câu không có hệ từ “là”

4.6. Chủ ngữ là thể từ/ngữ thể thật

4.7. Chủ ngữ có vai nghĩa “nguyên nhân”

4.8. Chủ ngữ có vai nghĩa “phương tiện, công cụ”

4.9. Chủ ngữ có vai nghĩa “vị trí, vật chứa”

4.10. Chủ ngữ có vai nghĩa “đối thể, tiếp thể”

4.11. Chủ ngữ là động từ/động ngữ, tính từ/tính ngữ và kết cấu C-V

4.12. Chủ ngữ của các câu có thành tố chỉ không gian cấu tạo bởi cấu trúc “thời vị từ + X” đứng đầu

4.13. Trường hợp câu tồn tại

4.14. Trường hợp câu thường được xem là có chủ ngữ đảo trí

4.15. Trường hợp câu thường được xem là có chủ ngữ zero

4.16. Chủ ngữ zero hồi chỉ

4.17. Chủ ngữ zero là chủ thể phát ngôn hoặc đối tượng tiếp nhận

4.18. “Nó” với vai trò là chủ ngữ thực và chủ ngữ hình thức

4.19. Chủ ngữ của một số kiểu câu khác

4.20. Mức độ đáp ứng tiêu chí điển mẫu của các trường hợp chủ ngữ phi điển mẫu

4.21. Mô hình phạm trù Chủ ngữ

4.22. Nhận xét chung

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về chủ ngữ tiếng Việt

Chủ ngữ trong tiếng Việt đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc câu. Theo lý thuyết điển mẫu, việc xác định chủ ngữ không chỉ dựa vào hình thức mà còn phụ thuộc vào ngữ nghĩa và ngữ dụng. Các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về sự tồn tại và vai trò của chủ ngữ trong tiếng Việt. Một số cho rằng tiếng Việt không có chủ ngữ, trong khi những người khác khẳng định rằng chủ ngữ là thành phần thiết yếu. Việc khảo sát chủ ngữ tiếng Việt theo lý thuyết điển mẫu giúp làm rõ những vấn đề này.

1.1. Khái niệm chủ ngữ

Chủ ngữ được định nghĩa là thành phần chính trong câu, thường là danh từ hoặc cụm danh từ, thể hiện người hoặc vật thực hiện hành động. Trong tiếng Việt, chủ ngữ có thể xuất hiện rõ ràng hoặc ẩn đi, điều này tạo ra sự phong phú trong cách diễn đạt. Theo lý thuyết điển mẫu, chủ ngữ có thể được phân loại thành chủ ngữ điển mẫu và không điển mẫu, tùy thuộc vào việc chúng có đáp ứng các tiêu chí ngữ pháp, ngữ nghĩa hay không.

II. Lý thuyết điển mẫu và ứng dụng

Lý thuyết điển mẫu (Prototype Theory) được áp dụng để xác định các thành phần chủ ngữ trong tiếng Việt. Lý thuyết này cho phép phân loại các thành phần theo mức độ đáp ứng các tiêu chí nhất định. Các tiêu chí này bao gồm tiêu chí ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Việc áp dụng lý thuyết điển mẫu giúp làm rõ hơn các trường hợp chủ ngữ điển mẫu và không điển mẫu, từ đó tạo ra một bức tranh tổng thể về cấu trúc câu trong tiếng Việt.

2.1. Các tiêu chí xác định chủ ngữ

Các tiêu chí xác định chủ ngữ bao gồm: (1) Tiêu chí ngữ pháp: xác định vị trí và hình thức của chủ ngữ trong câu; (2) Tiêu chí ngữ nghĩa: xác định vai trò và ý nghĩa của chủ ngữ; (3) Tiêu chí ngữ dụng: xem xét cách sử dụng chủ ngữ trong các ngữ cảnh khác nhau. Những tiêu chí này giúp phân loại chủ ngữ thành các nhóm khác nhau, từ đó xác định được chủ ngữ điển mẫu và không điển mẫu.

III. Các trường hợp chủ ngữ trong câu tiếng Việt

Nghiên cứu về các trường hợp chủ ngữ trong câu tiếng Việt cho thấy sự đa dạng và phong phú của ngôn ngữ này. Các trường hợp chủ ngữ điển mẫu thường đáp ứng đầy đủ các tiêu chí đã đề ra, trong khi các trường hợp không điển mẫu có thể không đáp ứng một hoặc nhiều tiêu chí. Việc phân tích các trường hợp này giúp làm rõ hơn về cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa của câu trong tiếng Việt.

3.1. Chủ ngữ điển mẫu

Chủ ngữ điển mẫu là những thành phần chủ ngữ đáp ứng đầy đủ các tiêu chí xác định. Chúng thường xuất hiện trong các câu có cấu trúc rõ ràng và dễ hiểu. Ví dụ, trong câu 'Học sinh học bài', 'Học sinh' là chủ ngữ điển mẫu vì nó thể hiện rõ ràng người thực hiện hành động học. Việc xác định chủ ngữ điển mẫu giúp người học ngôn ngữ hiểu rõ hơn về cách sử dụng và cấu trúc câu trong tiếng Việt.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về chủ ngữ tiếng Việt theo lý thuyết điển mẫu không chỉ làm rõ các vấn đề lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy và biên soạn tài liệu học tập. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong việc xây dựng sách giáo khoa tiếng Việt, giúp người học nắm vững cấu trúc ngữ pháp và cách sử dụng chủ ngữ trong câu. Điều này góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập tiếng Việt.

4.1. Ứng dụng trong giáo dục

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để biên soạn tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Việc hiểu rõ về chủ ngữ và cách sử dụng nó trong câu sẽ giúp người học nắm bắt ngữ pháp tiếng Việt một cách hiệu quả hơn. Ngoài ra, nghiên cứu cũng có thể hỗ trợ các nhà ngôn ngữ học trong việc phát triển các phương pháp giảng dạy mới, phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Lịch sử van dé và Cơ sở lý thuyết Trong phan lich sử van đề, chúng tôi tổng kết lại các khuynh hướng nghiên cứu về thành phan “chủ ngữ” nói riêng, kết cấu “chủ- vị” nói chung của các tác giả trong nước và trên thế giới. Trong đó, chúng tôi đặc biệt nhắn mạnh đến các nghiên cứu gần đây theo khuynh hướng đặt ra nghi vấn “có hay không có chủ ngữ trong tiếng Việt”. Phần Cơ sở lý thuyết trình bày tập trung vào lý thuyết chính của luận án: Lý thuyết điển mẫu.

Thông qua việc tóm tắt các công trình nghiên cứu lý thuyết điển mẫu trên thế giới và trong nước, đồng thời tham khảo một số áp dụng của lý thuyết điển mẫu vào nghiên cứu cú pháp, chúng tôi đề xuất cách áp dụng lý thuyết điển mẫu trong nghiên cứu thành phần chủ ngữ tiếng Việt. Cơ sở xác lập và bộ tiêu chí xác định chủ ngữ điển mẫu Chương này trình bày các bộ tiêu chí được luận án lay lam nén tảng (bộ tiêu chí của Keenan, Dyvik, các tác giả Việt ngữ học.), đồng thời xây dựng nên bộ tiêu chí thích hợp để xác định chủ ngữ điển mẫu trong câu tiếng Việt gồm 3 nhóm tiêu chi là: tiêu chí ngữ pháp, tiêu chí ngữ nghĩa, và tiêu chí ngữ dụng. Các trường hợp chủ ngữ điển mẫu trong câu tiếng Việt Thông qua số liệu thống kê và miêu tả các ví dụ, luận án tổng hợp lại các kiêu câu có chủ ngữ đáp ứng được day đủ các tiêu chí dé ra trong bộ tiêu chí điển mẫu. Các trường hợp này sẽ được khảo sát cụ thể ở tất cả các bình diện.

Các trường hợp chủ ngữ không điển mẫu trong câu tiếng Việt Chương nảy sẽ miêu tả, phân tích và gom nhóm các trường hợp chủ ngữ không phải là chủ ngữ điển mẫu (không đáp ứng được đầy đủ các tiêu chí). Thông qua việc miêu tả và phân tích trên cả 3 bình diện, các trường hợp chủ ngữ này sẽ được sắp xếp theo thang độ (có 5 cấp độ từ gần tâm đến xa tâm) tùy theo số lượng tiêu chí mà chúng đáp ứng được. Từ đó, chúng tôi xây dựng sơ đồ (từ tâm ra biên) của các thành viên điện mau và phi điên mẫu trong phạm trù chủ ngữ. LICH SỬ VAN DE VA CƠ SỞ LÝ THUYET 1.

Cac khuynh hướng nghiên cứu “chủ ngữ” trong các trường phái ngôn ngữ học 1. Khuynh hướng cỗ điển Thuật ngữ chủ ngữ xuất hiện trong các tác phẩm về logic hình thức của Aristotle từ những năm 300 trước công nguyên. “Băng việc sáng lập ra logic học và gan liền với nó là việc nghiên cứu sự biểu đạt tư duy bằng ngôn ngữ, Aristotle là người sáng lập ra ngữ pháp học logic mà ngày nay, người ta còn thay ảnh hưởng sâu đậm trong ngữ pháp nhà trường cũng như trong ngữ pháp khoa học ở châu Âu và thế giới” [64: 153]. Trong đó, chủ ngữ (hay chủ từ) được hiểu như một trong hai bộ phận cấu thành nên phán đoán gồm S (subject — chủ ngữ) và P (predicate — vị ngữ) được viết dưới dạng S la/khong là P.

Tuy nhiên, cần phải hiểu rang, vào thời kì của Aristotle, khi bàn về ngôn ngữ người ta chưa đưa ra một khái niệm về chủ ngữ một cách cụ thể, mà chỉ đề cập đến thuật ngữ mả sau này được hiểu như chủ ngũ/chủ từ, đó là ónóma. Sở đĩ Aristotle cho rằng “ónóma và réma đã phần nào mang ý nghĩa của danh từ và động từ, vì ông đã dựa vào những tiêu chí hình thai học; réma có ý nghĩa độc lập, kèm theo sắc thái về thời gian, còn ónóma thì không có sắc thái về thời gian, mà là những tên gọi thuộc giống đực, giống cái hay giống trung. Tuy vậy, ở nhiều chỗ, réma bao gồm cả tính từ vẫn được tác giả coi như “vị ngữ” (dùng thuật ngữ của ngôn ngữ học hiện đại) và ónóma cũng vẫn mang ý nghĩa của chủ ngữ. Không tách biệt từ loại và chức năng cú pháp là một trong những đặc điểm của ngữ pháp học thời này” [64: 151].

Trong một thời ki dai, logic học có ảnh hưởng một cách trực tiếp đến cách phân tích và lí giải về ngôn ngữ. Đặc biệt đến thế kỉ 17, do ảnh hưởng của logic học Aristotle, sự ra đời của cuốn “Ngữ pháp tổng quát và duy lý” do Arnauld và Lancelot — 2 nhà giáo của tu viện Port-Royal - soạn năm 1660 đánh dấu một bước ngoặt của ngữ pháp học, mà cũng là của ngôn ngữ học châu Âu. Hai tác giả Arnauld và Lancelot đã đề cập đến thuật ngữ “chủ từ” (tương ứng với cách gọi “chủ ngữ” hiện tại) với tư cách là một thành tố của phán đoán “Phán đoán mà ta tiến hành đối với các vật như khi tôi nói quả đất tron (la terre est ronde), gọi là MENH DE; và thế là mọi mệnh đề bao gồm hai thành phần: một là chủ từ, là cái được ta khăng định, như quá dat chang hạn; và hai là thuật từ (attribut) là điều mà người ta khang định như tron chang hạn: ngoài ra còn mối nối giữa hai thành phan là est”. Mặc dù không chú ý nhiều đến cú pháp ngôn ngữ mà chỉ chú ý đến cú pháp phán đoán, các tác giả cũng đã nêu ra một số quan điểm về thành phần gọi là chủ ngữ và các quy tắc liên quan đến chủ cách như sau: - Không bao giờ ta gặp chủ cách mà không có quan hệ với một động từ nào đó.

- Không có động từ nếu không có chủ cách của nó, du là được biểu lộ hay được hiểu ngầm là có. Bởi vì thuộc tính của động từ là bày tỏ sự khẳng định, cho nên đòi hỏi chủ từ phải được khang định. Theo đó, ngữ pháp Port-Royal đã đồng nhất ngôn ngữ với tư duy, logic, đồng nhất câu và phán đoán, đồng nhất chủ ngữ của câu với chủ từ của phán đoán, cũng như đồng nhất vị ngữ của câu với vị từ (thuật từ) của phán đoán. Điều này cũng thể hiện một cái nhìn hình thái học đối với phạm trù “chủ ngữ”.

Tuy nhiên, như ngày nay mọi người đều biết, tư duy và ngôn ngữ, logic và ngữ pháp không thé đồng nhất mặc dù giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ. Việc áp dụng một ngữ pháp phổ quát cho mọi ngôn ngữ cũng là một điều không thé. Ngữ pháp Port-Royal chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu một vài thứ tiếng châu Âu mà lại khái quát lên cho mọi ngôn ngữ là một điều hết sức sai lầm và dẫn đến nhiều mâu thuẫn về sau. Tuy vậy, ngữ pháp Port-Royal cũng đã chứng tỏ được tầm ảnh hưởng của mình cả về bề rộng và bề dài lịch sử về sau.

Bằng chứng là trong suốt thế kỷ XVIII, “mọi công trình ngôn ngữ hay triết lý — ngôn ngữ ở thé kỷ này đều mang theo ảnh hưởng của ngữ pháp Port-Royal” dưới dạng này hay dạng khác [64: 315]. Chang hạn, về khái niệm chủ ngữ/chủ từ, tác giả Duy Macxe (Các nguyên lý ngữ pháp học) đã lập luận: chủ từ phải đặt trước động từ vì “tự nhiên và lí trí dạy ta rằng: 1/Cần tồn tại mới có thé hoạt động; 2/cần tồn tại mới có thé là đối tượng của một hoạt động nao đó; 3/cần tồn tại trong hiện thực hay trong sự tưởng tượng thì mới có thé định nghĩa được” [64: 320] hay Vico cho rằng “mệnh đề cần phải có một chủ từ” nên “danh từ ra đời dần dần, trước động từ. Động từ xuất hiện sau cùng” [64: 341]. Khuynh hướng ngữ pháp duy lý Port-Royal cũng đã có những ảnh hưởng sâu rộng đến ngữ pháp tiếng Việt thời kì đầu tiên.

Tuy nhiên, khuynh hướng tâm lý tự nhiên của ngôn ngữ học lí thuyết về sau đã bắt đầu có sự thay đổi. Không đồng nhất ngôn ngữ với tư duy (mà chỉ xem ngôn ngữ là công cụ tạo nên tư tưởng, là phương tiện cơ bản của tư duy và của ý thức) nên Potebnja không tán thành quan điểm của trường phái logic về quan hệ giữa câu và mệnh đề (phán đoán) và cho rằng mệnh đề ngữ pháp nói chung không đồng nhất với mệnh đề logic ({64: 453]. Bởi vậy ông thừa nhận những mô hình câu không chủ ngữ: “Sự phát triển của câu không chủ ngữ chứng tỏ cố gắng thay thế danh từ ngay cả khi nó làm chủ ngữ. Vi dụ Gremit! (Sam vang).

Câu không chủ ngữ hiện còn ít nhưng theo sự phát triển của ngôn ngữ, loại câu ấy sẽ nhiều thêm”. Bên cạnh đó, ông cho rằng đặc điểm của chủ ngữ là danh cách của động từ (dẫn theo Nguyễn Kim Than [64: 453]). Cách tiếp cận cấu trúc cú pháp câu từ góc độ hình thái hoc, định nghĩa chủ ngữ là “danh ngữ có hình thái ở danh cách” đã đề cập đúng cương vị ngữ pháp của chủ ngữ trong câu, tức là chủ ngữ ngữ pháp. Mặc dù vậy, do không phải ngôn ngữ nảo cũng có hiện tượng biến cách của danh từ và hình thức nhân xưng của động từ nên đây không phải là một đặc điểm phố quát.

Cuối thé ki XIX dau thế ki XX, với sự phát triển của khuynh hướng Ngữ pháp trẻ với trường phái Laixich, trên quan điểm tâm lý học, Fortunatov có cách tiép cận độc dao vê cú pháp hoc. Môi quan hệ của các biêu tượng với nhau thường được gọi là các phán đoán tâm lí, trong đó có thể chia làm 2 phần: phần thứ nhất “do phần thứ hai tiền giả định, gọi là chủ ngữ tâm lý”, và phần thứ hai “trong mối quan hệ với phần thứ nhất, gọi là vị ngữ tâm lý”. Chủ ngữ tâm lý là biểu tượng hay phức thé biểu tượng hiện ra trước tiên trong ý thức của người nói hay người nghe. “Từ góc nhìn của ngôn ngữ, mỗi phán đoán tâm lý gồm có ba yếu tố: 1) biểu tượng của đối tượng tư tưởng thứ nhất thuộc phạm trù sự vật tính; 2) biểu tượng của đối tượng thứ hai (thường thuộc phạm trù vận động); 3) quan hệ hay sự khuyết quan hệ của các đối tượng ấy.

Hình thức biểu đạt phán đoán tâm lý là câu. Song phân tích câu về mặt ngữ pháp có thé không trùng hợp với phân tích phán đoán tâm lý. Vi dụ: phán đoán tâm ly NN priekhal iz Moskvy (NN từ Moskva tới) có chủ ngữ tâm ly “NN priekhal” (sự kiện đã biết), và vị ngữ tâm lý “iz Moskvy” (nêu điều mới) [64: 471]. Nhưng phán đoán “Priekhal NN” lại có Priekhal là chủ ngữ tâm lý (điều đã biết) và NN (thông báo mới) là vị ngữ tâm lý, hay khi priekhal NN tham gia vào vi ngữ tâm lý thì chủ ngữ tâm lý lại là một biểu tượng ở ngoài ngôn ngữ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khảo sát chủ ngữ tiếng Việt theo lý thuyết điển mẫu" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức phân tích và hiểu biết về chủ ngữ trong tiếng Việt thông qua lý thuyết điển mẫu. Tác giả không chỉ trình bày các khái niệm cơ bản mà còn chỉ ra tầm quan trọng của việc khảo sát chủ ngữ trong việc nâng cao khả năng giao tiếp và hiểu biết ngôn ngữ. Độc giả sẽ nhận được những lợi ích từ việc nắm vững cấu trúc ngữ pháp, từ đó cải thiện kỹ năng viết và nói trong tiếng Việt.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức của mình về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, hãy tham khảo thêm bài viết "Luận án phó tiến sĩ ngữ văn các phát ngôn đơn phần tiếng việt", nơi bạn có thể tìm hiểu về các phát ngôn đơn phần trong tiếng Việt. Bên cạnh đó, bài viết "Luận án tiến sĩ đặc điểm ngôn ngữ văn hoá của từ vựng phương ngữ quảng nam đà nẵng" sẽ giúp bạn khám phá sự phong phú của từ vựng trong các phương ngữ Việt Nam. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ đặc điểm ngôn ngữ văn hóa của tên gọi đường phố thuộc các quận nội thành hà nội" sẽ mang đến cho bạn cái nhìn thú vị về ngôn ngữ và văn hóa qua tên gọi đường phố ở Hà Nội. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về ngôn ngữ Việt Nam.