phần mở đầu và kết luận. kết quả nghiên cứu của luận án dược trình bày trong bốn chương. KHÁI NIỆM PNDP. Nhiệm vu của chương này là xác dinh các tiêu chí nhận diện PNĐP, thao luận về phạm vi và sự phân loại chúng.
Day là chương có tính lí luận và định hướng quan trọng của toàn bộ luận án làm tiên đề khảo sát các kiểu loại PN cụ thể ở những chương sau. PHÁT NGÔN BIE LẬP. Chương này có nhiệm vụ khảo sát một loại PN nhằm tìm ra những đặc điểm về cấu tạo, ý nghĩa và điều kiện hoạt động của chúng. Trong số PNDP, dây là loại có các kiểu PN rất phong phú, da dang, là một trong những phần nội dung cơ bản của luận án.
PHÁT NGÔN TỈNH 1. Nhiệm vụ của chương này là khảo sát các PN biến thể của câu song phần, làm rõ các kiểu tỉnh lược và vai trò của chúng liên quan đến bối cảnh. Chương này có tác dung góp phần bổ sung khái niệm PNĐP đã nêu ở chương | Chương 4. PHÁT NGÔN TÁCH BI1.
Đây là chương làm rõ cúc kiểu PN tách biệt, điều kiện và tác dụng cửa sự tách biệt. Chương | KHÁI NIỆM PHÁT NGON DON PHAN 1. PHÁT NGÔN DON PHAN LA GÌ? 1. Khái niệm phát ngôn.
Phát ngôn (Tiếng Anh: Announcement, tiếng Pháp: Annoncc) là một khái niệm chưa có cách hiểu thống nhất trong giới nghiên cứu. Liên quan đến khái niệm PN là hai vấn dé: cấp độ và kích thước của PN. Về cấp độ của PN, một số tác giả cho rằng nó thuộc cấp độ lời nói, lại có người xếp nó ở cấp độ ngôn ngữ. Ve kích thước, có người dong nhật nó với câu, số khác lại cho nó có thể bằng hoặc lớn hơn câu.
Tổng hợp các ý kiến về cả hai vấn đê, có thể vạch ra bốn cách quan niệm như sau: a. PN thuộc cấp độ lời nói, có kích thước bằng câu Theo Akhmanova, "Phát ngôn là một đơn vị thông báo có một ý hoàn chính và có thể dược người nghe cảm nhận trong những điều kiện giao tiếp nhất định bang ngôn ngữ” [dẫn theo 4; tr. Các tác giả "Dẫn luận ngôn ngữ học” quan niệm: "Câu là đơn vị ngôn ngữ, tức là don vị trừu tượng chỉ có thể nhận thức được thông qua các biến thể trong lời nói. Cúc biến thể này gọi là phát ngôn” [37; tr.
Diệp Quang Ban cho rằng: "Nhìn chung, phát ngôn được hiểu là một hành động giao tiếp, một don vị thông báo mà người nghe có thể tiếp nhận dược trong điều kiện giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất dinh. Cau là cái tương đối ổn định, nim trong các phát ngôn cụ thể và chỉ được rút ra từ các phát ngôn cụ thể qua việc nghiên cứu chúng. Chính cái tính chất ổn định tương dối giúp ta "giữ” phát ngôn ở "thể đứng yên” để mà nghiên cứu, đề mà phân tích và phát hiện ra cái gọi là câu” |4: tr. Phát ngôn thuộc cấp độ ngôn ngữ, có kích thước bang câu Theo LŨ Kovtunova, "Câu xét về mat giao tiếp được gọi là phát ngôn”, "Phát ngôn là một đơn vị của một cấp độ doe lập của hệ thông ngôn ngữ, cấp độ phân đoạn thực tại" [141; tr.
Nhà nghiên cứu V.Belosakova lại cho rằng: "Với tư cách là đối tượng phân tích ở diện động của cú pháp, nghĩa là như một đơn vị giao tiếp có đặc điểm ngữ điệu và (.) trật tự từ.C chú) quan hệ với ngữ cảnh xác định sự phân tích phân đoạn thực tại của nó nhưng không phải chỉ là sự kiện của lời nói. Cú pháp nghiên cứu chính những bản chất có tính hệ thống của nó”: (145; tr. Phát ngôn thuộc cấp độ lời nói, có kích thước bằng hoặc lớn hơn câu Một số tác giả có xu hướng cho phát ngôn thuộc bình diện lời nói, nhưng dung lượng của nó là không xác dịnh, tir một từ cho đến một quyển tiểu thuyết 600 trang (SkaliỄka, Harris) [dẫn theo 4; tr. Phát ngôn thuộc cấp độ ngôn ngữ, có kích thước bằng hoặc lớn hon câu.
Nhà ngôn ngữ học Tiệp Khác I. Danex cho rằng: Không nên đồng nhất khái niệm phát ngôn với các hành dong lời nói cũng như với câu như là một câu trúc cú pháp. Phát ngôn lẫn các sơ đô của phát ngôn đều thuộc vào hình thức có tính hệ thống của ngôn ngữ. Phát ngôn được xếp vào một cấp độ đặc biệt của hệ thống ngôn net đứng trên cấp dod câu.[dẫn theo 12; tr.
Trên đây, chúng tôi nêu tóm tắt các ý kiến tiêu biểu về mối quan hệ giữa câu và phát ngôn trên hai phương diện cấp độ và kích thước PN. Các ý kiến về PN có nhiều điểm khác nhau phản ánh một sự thực là mối quan hệ giữa câu và phát ngôn khá phức tạp. Trong luận án, chúng tôi quy ước hiểu: câu là đơn vị ngôn ngữ ở dạng mô hình, còn phát ngôn là đơn vị của lời nói, là sự thể hiện cụ thể của mô hình câu trong lời nói. Câu được chia thành hai loại: câu song phan (CSP) và câu đơn phần (CDP).
Các mô hình câu đó chính là sự khái quát hóa các kiểu PN tương ứng:PN song phần (PNSP) và PNDP. Tuy nhiên, sự tương ứng giữa các loại mô hình với các kiểu PN không phải là một đổi một. wn Kết quả khảo sát của chúng tôi cho thấy: một PNĐP có thể là biến thể của mô hình CDP mà cũng có thé là biến thể của mô hình CSP. Bong nhớ chuyển ra di ngày dánh Mỹ.
Cũng thé này day. Phát ngôn (1) được coi là biến thể của CDP: còn các PN ở ví dụ (2) được coi là biến thé của CSP: so với mô hình CSP (dược thể hiện ở PN đầu) thì chúng vắng CN do CN đã được biết qua văn cảnh, sự lập lại CN là không cần thiết. Kết quả là trên PN chỉ còn lại một thành phần hiệu hữu. Tóm lại: PN là biểu hiện cụ thể của câu trong giao tiếp.
Nghiên cứu PNĐP là nghién cứu những biểu hiện cụ thể, những biến thể của câu trong lời nói. Tiêu chí nhận điện phát ngôn đơn phần Mặc dù trên phương diện biểu kiên, sự khác biệt giữa PNSP với PNDP là khá rõ rệt, nhưng trên phương diện lí luận, việc xác định tiêu chí nhận điện chung không phải dé dang, đơn giản. Cho dén nay, các nhà Việt ngữ học đã nêu ra những loại tiêu chí khác nhau để ptải quyết vấn đề này. Tiêu chí hình thức Trong các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Viet, các tác gia đã dưa ra bốn bộ tiêu chí để phân biệt CSP với PNSP, CDP với PNĐP.
Đó là: tiêu chí có| không có kết cấu chủ-vị, tiêu chí về kiểu cụm từ, tiêu chí có / không có kết cấu đề- thuyết và tiêu chí về số lượng thành tố trực tiếp (gọi tất là IC) nòng cốt câu. Dưới dây, chúng tôi lần lượt tóm lược các quan điểm và nêu nhận xét về tác dụng của từng bộ tiêu chí đối với sự phân loại PNSP, PNDP. Dựa vào kết cấu chủ - vị, Ngữ pháp học truyền thống cho rằng kết cấu chủ - vị là cơ sở để xây dựng mệnh đề, trong đó vị ngữ là thành phần không thể thiếu được. Hoàng Tuệ quan niệm, câu tiếng Việt có kết cấu nền tảng là chủ ngữ - vị 6 ngữ, tuy vậy một số kết cấu không có chủ ngữ cũng có thể là câu, gọi là câu đơn bộ cú.
Ví dụ: Đi di! Mua. Vi vậy, tiêu chí để phân biệt CDP với CSP là CDP chỉ có vị ngữ, còn CSP có cả chủ ngữ lẫn vị ngữ. Chẳng hạn, Nguyễn Lân phát biểu: "Có thể có những câu chỉ có mot từ, nhưng từ ây phải là một vị ngtt. Ví dụ khỉ ta bdo mot em bé đương tréo trên cây: Xuống, hoặc khi ta bảo một em bé dương khóc; Níu.
Còn những trường hợp khác "chỉ hoặc là những trang từ hoặc thán từ, hoặc là những hô ngữ, hoặc nữa là cách viết đặc biệt của mét số nhà văn vì ngu ý riéng không muốn theo quy tắc ngữ pháp., không thể coi những từ hoặc nhóm từ dy là câu, vì tách chúng ra khỏi doạn van thì chúng không biểu thị dược ý của người viet hay nói. Quan điểm này còn được thể hiện cả trong những sách xuất bản vào đầu những năm 60, như trong cuốn "Giáo trình Việt ngữ” (tập D của Hoàng Tuệ. Ở day, tác giả không tuyên bố đến mức "cứng rắn” như Nguyễn Lân rằng "câu nhất thiết phải có vị ngữ”, câu không có vị ngữ là "câu sai ngữ pháp”, nhưng qua cách xác dinh câu "đơn bộ cú” của Ong, ta cũng thấy rõ tác giả chi chấp nhận những câu don bộ cú là VỊ ngữ. Điểm thiếu sót của các ý kiến trên là chưa đệ cập đến loại câu (PN) không phân định duoc chủ ngữ, vị ngữ (như: Ke vil; Me!), thậm chí gat chúng ra khỏi phạm vi nghiên cứu, tức bỏ qua một loại PN ton tai trong thực tế, Cũng dựa vào kết cấu chủ - vị nhưng nhiều nhà nghiên cứu sau này nhìn nhận vấn đề một cách uyén chuyển, linh hoạt hơn.
Đại diện cho quan điểm nay là Hoàng Trọng Phiến, các tác giá "Giáo trình ngữ pháp tiếng ViệU của Đại học Sư phạm | Hà Nội, Diệp Quang Ban và một số tác gid khác như Nguyễn Kim Than, Hong Dân V,V. Hoàng Trọng Phiến cho rằng: “Cau don, ngoài kết cấu chủ - vị làm hạt nhân còn được xây dung bang những đơn vị khác, bằng kết cấu khác. Theo ông, câu không dủ thành phần thường là câu không có chủ ngữ hoặc có chủ ngữ Zêrô. (Ví dụ: Rang dông rồi; Sắp sang xuân.
Còn câu một từ có thể do một danh từ, một động từ đảm nhiệm, nhưng danh từ, động từ này không ở trong chức nang chủ ngữ hay vị ngữ của câu.175, 176], Diệp Quang Ban cũng chia câu làm 2 loại: câu 2 thành phan và câu đặc biệt dựa vào nòng cốt, Cau hai thành phần là câu có chứa một cụm chủ - vị duy nhất làm nòng, cốt câu. Nó "chiếm vị trí chủ yếu của việc miêu tả ngữ pháp về câu”. được dử dụng rộng rãi nhất và được dùng làm cơ sở cho những kiểu câu có cấu tạo lớn hơn (câu don mở rộng nòng cốt câu, câu phức và nhất là câu ghép) [H; tr. Câu đơn đặc biệt là “kiến trúc có một trưng tâm cú pháp chính (có thể thêm trung tâm cú pháp phụ) không chứa hoặc không hàm ẩn một trung tâm cú pháp thứ hai, có quan hệ với nó như là quan hệ giữa chủ ngữ với vị ngữ”.
Tác gia giải thích rõ thêm: câu đặc biệt khác câu hai thành phần ở chỗ: "nó là một kiến trúc kín tự thân chứa mot trung tâm cú pháp chính.