Luận án phó tiến sĩ: Nghiên cứu các phát ngôn đơn phần tiếng Việt

Tài liệu nghiên cứu Luận án phó tiến sĩ ngữ văn các phát ngôn đơn phần tiếng việt, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về văn học.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
181
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Bố cục của luận án

1. CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM PHÁT NGÔN ĐƠN PHẦN

1.1. Phát ngôn đơn phần là gì?

1.2. Khái niệm phát ngôn. Tiêu chí nhận diện phát ngôn đơn phần

1.3. Phạm vi phát ngôn đơn phần

1.4. Phát ngôn tồn tại

1.5. Phát ngôn tinh lược

1.6. Phát ngôn tách biệt

1.7. Phân loại phát ngôn đơn phần

1.8. Vấn đề phân loại phát ngôn đơn phần

1.9. Tiêu chí và kết quả phân loại

1.10. Tiểu kết

2. CHƯƠNG 2: PHÁT NGÔN BIỆT LẬP

2.1. Khái niệm phát ngôn biệt lập

2.2. Phát ngôn biệt lập là gì

2.3. Phân loại phát ngôn biệt lập

2.4. Khảo sát các loại phát ngôn biệt lập

2.5. Phát ngôn tượng thanh

2.6. Phát ngôn định vị

2.7. Phát ngôn liệt kê

2.8. Phát ngôn gọi đáp

2.9. Phát ngôn cảm thán

2.10. Phát ngôn bình xét, đánh giá

2.11. Phát ngôn phản ứng

2.12. Phát ngôn thông báo

2.13. Hoạt động của phát ngôn biệt lập trong văn bản

2.14. Đoạn văn đặc biệt là "Phát ngôn - từ”

2.15. Đoạn văn đặc biệt là "Phát ngôn - cụm từ”

2.16. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3: PHÁT NGÔN TINH LƯỢC

3.1. Khái niệm về phát ngôn tinh lược

3.2. Vấn đề rút gọn và tinh lược trong phát ngôn

3.3. Phát ngôn tinh lược là gì?

3.4. Phân loại phát ngôn tinh lược

3.5. Khảo sát các phát ngôn tinh lược

3.6. Phát ngôn tinh lược chủ ngữ

3.7. Phát ngôn tinh lược chủ ngữ và phát ngôn tinh lược chủ ngữ - vị ngữ

3.8. Phát ngôn tinh lược và phát ngôn thiếu thành phần (câu sai ngữ pháp)

3.9. Tiểu kết

4. CHƯƠNG 4: PHÁT NGÔN TÁCH BIỆT

4.1. Khái niệm phát ngôn tách biệt

4.2. Vấn đề tách biệt và tinh lược phát ngôn

4.3. Phát ngôn tách biệt là gì

4.4. Phân loại phát ngôn tách biệt

4.5. Khảo sát các loại phát ngôn tách biệt

4.6. Phát ngôn tách biệt tương đương vị ngữ

4.7. Phát ngôn tách biệt tương đương trạng ngữ

4.8. Phát ngôn tách biệt tương đương bổ ngữ

4.9. Phát ngôn tách biệt tương đương định ngữ

4.10. Tác dụng của phát ngôn tách biệt trong văn bản

4.11. Điều kiện và quy tắc của phát ngôn tách biệt

4.12. Những vấn đề đặt ra trong việc nghiên cứu phát ngôn tách biệt

4.13. Tiểu kết

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu về phát ngôn đơn phần trong tiếng Việt là một lĩnh vực quan trọng trong nghiên cứu ngôn ngữ. Việc tìm hiểu về phát ngôn đơn phần không chỉ giúp làm rõ các khái niệm ngữ pháp mà còn góp phần vào việc hiểu sâu hơn về cách thức giao tiếp trong xã hội. Phát ngôn đơn phần thường xuất hiện trong các tình huống giao tiếp hàng ngày, thể hiện sự ngắn gọn và súc tích trong việc truyền đạt thông tin. Theo các nhà nghiên cứu, việc phân tích phát ngôn đơn phần có thể giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và hành động giao tiếp, từ đó nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt trong các lĩnh vực khác nhau.

II. Khái niệm Phát ngôn đơn phần

Khái niệm phát ngôn đơn phần được định nghĩa là những phát ngôn chỉ có một thành tố, không cần đến các thành phần khác để hoàn thiện ý nghĩa. Theo nghiên cứu ngôn ngữ, phát ngôn đơn phần có thể được phân loại thành nhiều dạng khác nhau, bao gồm phát ngôn tách biệt và phát ngôn tinh lược. Các nhà ngôn ngữ học đã chỉ ra rằng, phát ngôn đơn phần có thể tồn tại độc lập trong giao tiếp mà không cần đến ngữ cảnh bổ sung. Điều này cho thấy sự linh hoạt và đa dạng trong cách sử dụng ngôn ngữ của người nói. Việc nghiên cứu phát ngôn đơn phần không chỉ giúp làm rõ cấu trúc ngữ pháp mà còn phản ánh cách thức tư duy và giao tiếp của người Việt.

III. Phân loại và tiêu chí nhận diện phát ngôn đơn phần

Việc phân loại phát ngôn đơn phần dựa trên các tiêu chí hình thức và ngữ nghĩa. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều tiêu chí khác nhau để nhận diện phát ngôn đơn phần, bao gồm tiêu chí về cấu trúc chủ-vị, tiêu chí về cụm từ và tiêu chí về số lượng thành tố trực tiếp. Phát ngôn đơn phần có thể được phân loại thành phát ngôn tách biệt và phát ngôn tinh lược, mỗi loại đều có những đặc điểm riêng biệt. Sự phân loại này không chỉ giúp làm rõ cấu trúc ngữ pháp mà còn tạo điều kiện cho việc áp dụng trong thực tiễn giao tiếp hàng ngày. Việc hiểu rõ các tiêu chí này sẽ giúp người học tiếng Việt nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả.

IV. Tác dụng của phát ngôn đơn phần trong văn bản

Trong văn bản, phát ngôn đơn phần đóng vai trò quan trọng trong việc truyền đạt thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả. Phát ngôn đơn phần thường được sử dụng trong các tình huống giao tiếp không chính thức, nơi mà sự ngắn gọn và súc tích là cần thiết. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc sử dụng phát ngôn đơn phần có thể giúp tăng cường tính rõ ràng và mạch lạc trong văn bản. Hơn nữa, phát ngôn đơn phần còn có thể tạo ra sự nhấn mạnh cho các ý tưởng chính, giúp người đọc dễ dàng tiếp nhận thông tin. Do đó, việc nghiên cứu và ứng dụng phát ngôn đơn phần trong văn bản là rất cần thiết.

V. Kết luận

Nghiên cứu về phát ngôn đơn phần trong tiếng Việt không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn cao. Những kết quả từ nghiên cứu này có thể giúp cải thiện khả năng giao tiếp của người học tiếng Việt, đồng thời làm rõ hơn các vấn đề ngữ pháp trong ngôn ngữ. Việc hiểu và áp dụng các khái niệm liên quan đến phát ngôn đơn phần sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập tiếng Việt trong các bối cảnh khác nhau.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận. kết quả nghiên cứu của luận án dược trình bày trong bốn chương. KHÁI NIỆM PNDP. Nhiệm vu của chương này là xác dinh các tiêu chí nhận diện PNĐP, thao luận về phạm vi và sự phân loại chúng.

Day là chương có tính lí luận và định hướng quan trọng của toàn bộ luận án làm tiên đề khảo sát các kiểu loại PN cụ thể ở những chương sau. PHÁT NGÔN BIE LẬP. Chương này có nhiệm vụ khảo sát một loại PN nhằm tìm ra những đặc điểm về cấu tạo, ý nghĩa và điều kiện hoạt động của chúng. Trong số PNDP, dây là loại có các kiểu PN rất phong phú, da dang, là một trong những phần nội dung cơ bản của luận án.

PHÁT NGÔN TỈNH 1. Nhiệm vụ của chương này là khảo sát các PN biến thể của câu song phần, làm rõ các kiểu tỉnh lược và vai trò của chúng liên quan đến bối cảnh. Chương này có tác dung góp phần bổ sung khái niệm PNĐP đã nêu ở chương | Chương 4. PHÁT NGÔN TÁCH BI1.

Đây là chương làm rõ cúc kiểu PN tách biệt, điều kiện và tác dụng cửa sự tách biệt. Chương | KHÁI NIỆM PHÁT NGON DON PHAN 1. PHÁT NGÔN DON PHAN LA GÌ? 1. Khái niệm phát ngôn.

Phát ngôn (Tiếng Anh: Announcement, tiếng Pháp: Annoncc) là một khái niệm chưa có cách hiểu thống nhất trong giới nghiên cứu. Liên quan đến khái niệm PN là hai vấn dé: cấp độ và kích thước của PN. Về cấp độ của PN, một số tác giả cho rằng nó thuộc cấp độ lời nói, lại có người xếp nó ở cấp độ ngôn ngữ. Ve kích thước, có người dong nhật nó với câu, số khác lại cho nó có thể bằng hoặc lớn hơn câu.

Tổng hợp các ý kiến về cả hai vấn đê, có thể vạch ra bốn cách quan niệm như sau: a. PN thuộc cấp độ lời nói, có kích thước bằng câu Theo Akhmanova, "Phát ngôn là một đơn vị thông báo có một ý hoàn chính và có thể dược người nghe cảm nhận trong những điều kiện giao tiếp nhất định bang ngôn ngữ” [dẫn theo 4; tr. Các tác giả "Dẫn luận ngôn ngữ học” quan niệm: "Câu là đơn vị ngôn ngữ, tức là don vị trừu tượng chỉ có thể nhận thức được thông qua các biến thể trong lời nói. Cúc biến thể này gọi là phát ngôn” [37; tr.

Diệp Quang Ban cho rằng: "Nhìn chung, phát ngôn được hiểu là một hành động giao tiếp, một don vị thông báo mà người nghe có thể tiếp nhận dược trong điều kiện giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất dinh. Cau là cái tương đối ổn định, nim trong các phát ngôn cụ thể và chỉ được rút ra từ các phát ngôn cụ thể qua việc nghiên cứu chúng. Chính cái tính chất ổn định tương dối giúp ta "giữ” phát ngôn ở "thể đứng yên” để mà nghiên cứu, đề mà phân tích và phát hiện ra cái gọi là câu” |4: tr. Phát ngôn thuộc cấp độ ngôn ngữ, có kích thước bang câu Theo LŨ Kovtunova, "Câu xét về mat giao tiếp được gọi là phát ngôn”, "Phát ngôn là một đơn vị của một cấp độ doe lập của hệ thông ngôn ngữ, cấp độ phân đoạn thực tại" [141; tr.

Nhà nghiên cứu V.Belosakova lại cho rằng: "Với tư cách là đối tượng phân tích ở diện động của cú pháp, nghĩa là như một đơn vị giao tiếp có đặc điểm ngữ điệu và (.) trật tự từ.C chú) quan hệ với ngữ cảnh xác định sự phân tích phân đoạn thực tại của nó nhưng không phải chỉ là sự kiện của lời nói. Cú pháp nghiên cứu chính những bản chất có tính hệ thống của nó”: (145; tr. Phát ngôn thuộc cấp độ lời nói, có kích thước bằng hoặc lớn hơn câu Một số tác giả có xu hướng cho phát ngôn thuộc bình diện lời nói, nhưng dung lượng của nó là không xác dịnh, tir một từ cho đến một quyển tiểu thuyết 600 trang (SkaliỄka, Harris) [dẫn theo 4; tr. Phát ngôn thuộc cấp độ ngôn ngữ, có kích thước bằng hoặc lớn hon câu.

Nhà ngôn ngữ học Tiệp Khác I. Danex cho rằng: Không nên đồng nhất khái niệm phát ngôn với các hành dong lời nói cũng như với câu như là một câu trúc cú pháp. Phát ngôn lẫn các sơ đô của phát ngôn đều thuộc vào hình thức có tính hệ thống của ngôn ngữ. Phát ngôn được xếp vào một cấp độ đặc biệt của hệ thống ngôn net đứng trên cấp dod câu.[dẫn theo 12; tr.

Trên đây, chúng tôi nêu tóm tắt các ý kiến tiêu biểu về mối quan hệ giữa câu và phát ngôn trên hai phương diện cấp độ và kích thước PN. Các ý kiến về PN có nhiều điểm khác nhau phản ánh một sự thực là mối quan hệ giữa câu và phát ngôn khá phức tạp. Trong luận án, chúng tôi quy ước hiểu: câu là đơn vị ngôn ngữ ở dạng mô hình, còn phát ngôn là đơn vị của lời nói, là sự thể hiện cụ thể của mô hình câu trong lời nói. Câu được chia thành hai loại: câu song phan (CSP) và câu đơn phần (CDP).

Các mô hình câu đó chính là sự khái quát hóa các kiểu PN tương ứng:PN song phần (PNSP) và PNDP. Tuy nhiên, sự tương ứng giữa các loại mô hình với các kiểu PN không phải là một đổi một. wn Kết quả khảo sát của chúng tôi cho thấy: một PNĐP có thể là biến thể của mô hình CDP mà cũng có thé là biến thể của mô hình CSP. Bong nhớ chuyển ra di ngày dánh Mỹ.

Cũng thé này day. Phát ngôn (1) được coi là biến thể của CDP: còn các PN ở ví dụ (2) được coi là biến thé của CSP: so với mô hình CSP (dược thể hiện ở PN đầu) thì chúng vắng CN do CN đã được biết qua văn cảnh, sự lập lại CN là không cần thiết. Kết quả là trên PN chỉ còn lại một thành phần hiệu hữu. Tóm lại: PN là biểu hiện cụ thể của câu trong giao tiếp.

Nghiên cứu PNĐP là nghién cứu những biểu hiện cụ thể, những biến thể của câu trong lời nói. Tiêu chí nhận điện phát ngôn đơn phần Mặc dù trên phương diện biểu kiên, sự khác biệt giữa PNSP với PNDP là khá rõ rệt, nhưng trên phương diện lí luận, việc xác định tiêu chí nhận điện chung không phải dé dang, đơn giản. Cho dén nay, các nhà Việt ngữ học đã nêu ra những loại tiêu chí khác nhau để ptải quyết vấn đề này. Tiêu chí hình thức Trong các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Viet, các tác gia đã dưa ra bốn bộ tiêu chí để phân biệt CSP với PNSP, CDP với PNĐP.

Đó là: tiêu chí có| không có kết cấu chủ-vị, tiêu chí về kiểu cụm từ, tiêu chí có / không có kết cấu đề- thuyết và tiêu chí về số lượng thành tố trực tiếp (gọi tất là IC) nòng cốt câu. Dưới dây, chúng tôi lần lượt tóm lược các quan điểm và nêu nhận xét về tác dụng của từng bộ tiêu chí đối với sự phân loại PNSP, PNDP. Dựa vào kết cấu chủ - vị, Ngữ pháp học truyền thống cho rằng kết cấu chủ - vị là cơ sở để xây dựng mệnh đề, trong đó vị ngữ là thành phần không thể thiếu được. Hoàng Tuệ quan niệm, câu tiếng Việt có kết cấu nền tảng là chủ ngữ - vị 6 ngữ, tuy vậy một số kết cấu không có chủ ngữ cũng có thể là câu, gọi là câu đơn bộ cú.

Ví dụ: Đi di! Mua. Vi vậy, tiêu chí để phân biệt CDP với CSP là CDP chỉ có vị ngữ, còn CSP có cả chủ ngữ lẫn vị ngữ. Chẳng hạn, Nguyễn Lân phát biểu: "Có thể có những câu chỉ có mot từ, nhưng từ ây phải là một vị ngtt. Ví dụ khỉ ta bdo mot em bé đương tréo trên cây: Xuống, hoặc khi ta bảo một em bé dương khóc; Níu.

Còn những trường hợp khác "chỉ hoặc là những trang từ hoặc thán từ, hoặc là những hô ngữ, hoặc nữa là cách viết đặc biệt của mét số nhà văn vì ngu ý riéng không muốn theo quy tắc ngữ pháp., không thể coi những từ hoặc nhóm từ dy là câu, vì tách chúng ra khỏi doạn van thì chúng không biểu thị dược ý của người viet hay nói. Quan điểm này còn được thể hiện cả trong những sách xuất bản vào đầu những năm 60, như trong cuốn "Giáo trình Việt ngữ” (tập D của Hoàng Tuệ. Ở day, tác giả không tuyên bố đến mức "cứng rắn” như Nguyễn Lân rằng "câu nhất thiết phải có vị ngữ”, câu không có vị ngữ là "câu sai ngữ pháp”, nhưng qua cách xác dinh câu "đơn bộ cú” của Ong, ta cũng thấy rõ tác giả chi chấp nhận những câu don bộ cú là VỊ ngữ. Điểm thiếu sót của các ý kiến trên là chưa đệ cập đến loại câu (PN) không phân định duoc chủ ngữ, vị ngữ (như: Ke vil; Me!), thậm chí gat chúng ra khỏi phạm vi nghiên cứu, tức bỏ qua một loại PN ton tai trong thực tế, Cũng dựa vào kết cấu chủ - vị nhưng nhiều nhà nghiên cứu sau này nhìn nhận vấn đề một cách uyén chuyển, linh hoạt hơn.

Đại diện cho quan điểm nay là Hoàng Trọng Phiến, các tác giá "Giáo trình ngữ pháp tiếng ViệU của Đại học Sư phạm | Hà Nội, Diệp Quang Ban và một số tác gid khác như Nguyễn Kim Than, Hong Dân V,V. Hoàng Trọng Phiến cho rằng: “Cau don, ngoài kết cấu chủ - vị làm hạt nhân còn được xây dung bang những đơn vị khác, bằng kết cấu khác. Theo ông, câu không dủ thành phần thường là câu không có chủ ngữ hoặc có chủ ngữ Zêrô. (Ví dụ: Rang dông rồi; Sắp sang xuân.

Còn câu một từ có thể do một danh từ, một động từ đảm nhiệm, nhưng danh từ, động từ này không ở trong chức nang chủ ngữ hay vị ngữ của câu.175, 176], Diệp Quang Ban cũng chia câu làm 2 loại: câu 2 thành phan và câu đặc biệt dựa vào nòng cốt, Cau hai thành phần là câu có chứa một cụm chủ - vị duy nhất làm nòng, cốt câu. Nó "chiếm vị trí chủ yếu của việc miêu tả ngữ pháp về câu”. được dử dụng rộng rãi nhất và được dùng làm cơ sở cho những kiểu câu có cấu tạo lớn hơn (câu don mở rộng nòng cốt câu, câu phức và nhất là câu ghép) [H; tr. Câu đơn đặc biệt là “kiến trúc có một trưng tâm cú pháp chính (có thể thêm trung tâm cú pháp phụ) không chứa hoặc không hàm ẩn một trung tâm cú pháp thứ hai, có quan hệ với nó như là quan hệ giữa chủ ngữ với vị ngữ”.

Tác gia giải thích rõ thêm: câu đặc biệt khác câu hai thành phần ở chỗ: "nó là một kiến trúc kín tự thân chứa mot trung tâm cú pháp chính.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu phát ngôn đơn phần trong tiếng Việt" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức sử dụng và cấu trúc của các phát ngôn đơn phần trong ngôn ngữ Việt Nam. Tác giả phân tích các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về vai trò của chúng trong giao tiếp hàng ngày. Bài viết không chỉ mang lại kiến thức lý thuyết mà còn có thể áp dụng vào thực tiễn, giúp cải thiện kỹ năng giao tiếp và viết lách.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ học, hãy tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ từ vay mượn trong tiếng việt được sử dụng trên mạng internet", nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về sự ảnh hưởng của ngôn ngữ hiện đại. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ english vietnamese code switching in conversations of vietnamese engineers reasons and attitudes of community" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự chuyển đổi ngôn ngữ trong giao tiếp của các kỹ sư Việt Nam. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ nghiên cứu cách biểu đạt hành vi mệnh lệnh trong tiếng hán đối chiếu cách biểu đạt tương đương trong tiếng việt luận văn ths ngôn ngữ học 60 22 10" sẽ mang đến cho bạn cái nhìn so sánh thú vị giữa các ngôn ngữ khác nhau. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về ngôn ngữ học.