Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Cao Việt Hiếu, chuyên ngành kinh tế, thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2006, nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu phát triển một số dịch vụ sản xuất – xuất khẩu hàng hóa trái cây Đồng bằng sông Cửu Long".

Về tính cấp thiết, nghiên cứu được đặt trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tiến trình đòi hỏi các ngành kinh tế phải nâng cao năng lực cạnh tranh trước các đối thủ quốc tế. Ngành trái cây Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đứng trước cơ hội mở rộng thị trường theo "Đề án chiến lược xuất khẩu rau quả đến năm 2010" của Bộ Thương mại với mục tiêu đạt giá trị xuất khẩu 1.000 triệu USD. Tuy nhiên, thực tế sản lượng xuất khẩu trái cây của vùng lại sụt giảm dù có nhiều chủng loại được đánh giá là ngon. Nguyên nhân xuất phát từ công nghệ lạc hậu, khoa học kỹ thuật chậm phát triển, thiếu vùng chuyên canh tập trung và tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch lên tới 30%. Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các đề tài trước đây chủ yếu tập trung vào kỹ thuật canh tác hoặc tìm kiếm thị trường đầu ra đơn thuần, chưa có công trình nào tiếp cận vấn đề dưới góc độ hệ thống các dịch vụ hỗ trợ sản xuất và xuất khẩu. Trong khi đó, ở các nước phát triển, hàm lượng giá trị dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị hàng hóa trái cây xuất khẩu.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được đánh số cụ thể như sau:

  1. Nghiên cứu có hệ thống và toàn diện cơ sở lý luận về dịch vụ, dịch vụ trong nông nghiệp, các đặc điểm, vai trò và phân loại dịch vụ đối với sự phát triển của ngành nông nghiệp nói chung và trái cây xuất khẩu nói riêng.
  2. Làm rõ vai trò của dịch vụ công, dịch vụ hành chính sự nghiệp đối với sự phát triển của ngành nông nghiệp, củng cố cơ sở lý luận về tầm quan trọng của loại hình dịch vụ này đối với hàng hóa trái cây xuất khẩu ĐBSCL.
  3. Phân tích thực trạng dịch vụ bảo hiểm cho ngành trái cây nhằm tìm ra nguyên nhân gốc rễ dẫn đến việc dịch vụ bảo hiểm chưa thể thâm nhập vào ngành, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục.
  4. Đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện các hoạt động dịch vụ liên quan đến trái cây ĐBSCL theo hướng công nghiệp hóa, chuyên môn hóa cao, có sự liên kết mang tính hệ thống từ đầu vào đến đầu ra, tạo nền tảng nâng cao chất lượng và gia tăng sản lượng xuất khẩu.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là một số dịch vụ cốt lõi có liên quan trực tiếp đến hàng hóa trái cây xuất khẩu vùng ĐBSCL. Về phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Tập trung tại vùng ĐBSCL, trọng tâm là các tỉnh có sản lượng cây ăn trái phát triển gồm Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre và Cần Thơ; cùng các tổ chức quản lý và nghiên cứu gồm Viện Cây ăn quả Miền Nam, Sở Thương mại, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn.
  • Thời gian: Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2001 - 2005; các chuyến khảo sát hội chợ triển lãm nông nghiệp thực hiện từ năm 2002 đến năm 2004.
  • Giới hạn nội dung: Luận án không đi sâu vào các dịch vụ giao nhận ngoại thương, vận tải thông thường, bưu chính viễn thông, tài chính tín dụng ngân hàng vì đã có nhiều công trình nghiên cứu riêng; không đi sâu vào chế biến trái cây do những tranh luận quốc tế chưa ngã ngũ về hóa chất bảo quản; đồng thời loại trừ phạm vi thị trường tiêu thụ nội địa.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã điểm lại các công trình khoa học trong nước và dự án quốc tế liên quan trực tiếp đến chuỗi giá trị trái cây và kinh tế dịch vụ:

  • Đề tài cấp Bộ năm 2001 của PGS.TS Võ Thanh Thu: "Những giải pháp đầu ra cho sản phẩm trái cây tươi của Đồng bằng Sông Cửu Long", phân tích các tác nhân tiêu thụ và kênh phân phối truyền thống nhưng chưa tiếp cận dưới góc độ dịch vụ.
  • Đề tài nhánh năm 2001 của TS. Nguyễn Văn Lịch: "Thị trường trái cây thế giới và triển vọng xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2010", đánh giá khả năng tiêu thụ của 6 loại trái cây tiềm năng của Việt Nam.
  • Luận án tiến sĩ năm 2004 của NCS Hà Thị Ngọc Oanh: "Một số giải pháp nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa trái cây xuất khẩu của Đồng bằng Sông Cửu Long trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế", xây dựng công thức tính sức cạnh tranh giữa các vùng, các quốc gia và thiết lập các chỉ tiêu định tính, định lượng, nhưng chưa nghiên cứu toàn diện hệ thống dịch vụ hỗ trợ.
  • Đề tài năm 2004 của Đoàn Thị Mỹ Hạnh: "Ứng dụng lý thuyết cầu, cung trong việc lựa chọn giải pháp phát triển vùng cây ăn trái Đồng bằng Sông Cửu Long", vận dụng quan hệ cung cầu để mở rộng vùng cây ăn trái.
  • Đề tài năm 2004 của Trương Thị Bé Hai: "Định hướng phát triển ngành chế biến trái cây tỉnh Vĩnh Long đến năm 2010", tập trung giải quyết vùng nguyên liệu chế biến tại Vĩnh Long.
  • Đề tài năm 2004 của GS.TS Võ Thanh Thu: "Những giải pháp phát triển các hoạt động dịch vụ nhằm hỗ trợ cho đẩy mạnh xuất khẩu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh", hệ thống hóa lý thuyết dịch vụ ngoại thương như kho bãi, hải quan, thanh toán, song chưa gắn với nông sản trái cây.
  • Đề tài của GS.TS Hoàng Văn Châu: "Định hướng và giải pháp phát triển các ngành dịch vụ trên địa bàn TP.HCM đáp ứng yêu cầu Hiệp định thương mại Việt Mỹ", cung cấp lý luận dịch vụ thương mại đô thị.
  • Đề tài cấp Bộ năm 2005 của Nguyễn Thanh Nguyệt (Đại học Cần Thơ): "Phân tích tình hình tiêu thụ nông sản trái cây, các giải pháp phát triển sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ và xuất khẩu", nêu bật bất cập trong kênh phân phối nông sản nhưng chưa xem xét dưới góc độ dịch vụ.
  • Các nghiên cứu chuyên khảo kỹ thuật: công trình của Đoàn Hữu Tiến và Tạ Minh Tuấn về sản xuất và thị trường thanh long Nam Bộ; nghiên cứu của Lương Trung Lập và Tạ Minh Tuấn về sản xuất và thị trường vú sữa ĐBSCL.
  • Kỷ yếu Hội thảo chợ trái cây đầu mối tại Cần Thơ năm 2001 và Dự án nâng cao sức cạnh tranh của Việt Nam do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USDA) tài trợ năm 2003 về chiến lược liên kết ngành trái cây.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Kế thừa các phân tích kỹ thuật và thị trường từ các công trình đi trước, luận án là công trình thiết lập khung phân tích dịch vụ hoàn chỉnh cho ngành hàng trái cây xuất khẩu ĐBSCL; định vị các mắt xích dịch vụ công, dịch vụ thương mại, bảo hiểm nông nghiệp và mô hình hợp tác xã dịch vụ theo chuỗi giá trị khép kín từ khâu sản xuất ban đầu đến khi thông quan xuất khẩu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý luận kinh tế chính trị và kinh tế học vi mô:

  • Khái niệm dịch vụ: Tiếp cận quan điểm của C. Mác (lao động phi vật chất, dịch vụ là sự phục vụ dưới hình thái hoạt động mà tiền tệ trực tiếp trao đổi) và định nghĩa từ tạp chí The Economist ("dịch vụ là bất cứ cái gì đem bán mà không thể rơi vào chân bạn"). Luận án xác định dịch vụ nông nghiệp là các hoạt động "phần mềm" tạo ra sản phẩm vô hình đi kèm sản phẩm hữu hình nhằm nâng cao giá trị sử dụng và giá trị thương phẩm.
  • Năm luận điểm cốt lõi về dịch vụ: (1) là hoạt động lao động mang tính phi vật chất; (2) không tách rời sản phẩm vật chất; (3) tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm hữu hình; (4) không gắn với quyền sở hữu; (5) chất lượng dịch vụ biến thiên tùy thuộc vào nhận thức và trình độ phát triển.
  • Bốn đặc điểm của dịch vụ: Tính vô hình, tính khả biến, tính không tồn kho, tính không mất đi (chuyển hóa thành giá trị gia tăng kết tinh trong sản phẩm hữu hình).
  • Khung phân loại dịch vụ:
    • Theo chủ thể thực hiện: Dịch vụ của chủ thể Nhà nước (dịch vụ công độc quyền theo quan điểm của Jim Armstrong gồm: pháp luật, hạ tầng, phúc lợi xã hội, thông tin tư vấn công quyền); Dịch vụ của các tổ chức xã hội (dịch vụ công cộng); Dịch vụ của các tổ chức kinh doanh.
    • Theo quá trình tiêu thụ hàng: Dịch vụ trước khi tiêu thụ, dịch vụ bán hàng và dịch vụ sau bán hàng.
    • Theo hệ thống phân loại của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): Gồm 12 khu vực và 155 phân ngành dịch vụ.
  • Lý thuyết cung - cầu dịch vụ: Vận dụng lý thuyết của Paul A. Samuelson và William D. Nordhaus để giải thích quan hệ giá cả và lượng dịch vụ trên đường cầu (D) và đường cung (S). Phân tích sự can thiệp của Chính phủ (trợ cấp cầu, trợ giá cung, ấn định giá sàn, giá trần) khi thị trường xảy ra thất bại, đặc biệt đối với dịch vụ có rủi ro cao như bảo hiểm nông nghiệp; vai trò bình ổn và đại diện của các tổ chức phi chính phủ (NGO).

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp logic biện chứng và logic lịch sử để đánh giá các mối quan hệ cung cầu dịch vụ và sự phát triển nội tại của ngành trái cây ĐBSCL.
  • Phương pháp thu thập và xử lý: Kết hợp phương pháp tổng hợp diễn giải lý thuyết, phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi đối với nhà vườn, nông hộ và cán bộ quản lý Nhà nước; phương pháp chuyên gia và phương pháp dự báo xu hướng để hình thành các giải pháp.
  • Nguồn tư liệu: Dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2001 - 2005 trích từ các văn kiện pháp quy, niên giám thống kê, báo cáo của Bộ Thương mại, các đề tài khoa học và kỷ yếu hội thảo. Dữ liệu sơ cấp được tác giả trực tiếp điều tra tại Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Cần Thơ; khảo sát các hội chợ nông nghiệp ĐBSCL (2002 - 2004) và các đợt đi thực tế cùng Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tại Singapore, Thái Lan, Malaysia, Đài Loan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý thuyết về dịch vụ, dịch vụ trong nông nghiệp – Kinh nghiệm hoạt động dịch vụ của một số nước

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận kinh tế và tổng thuật kinh nghiệm thực tiễn quốc tế. Tác giả chỉ ra vai trò của dịch vụ đối với nền kinh tế: tỷ trọng dịch vụ trong GDP của Singapore chiếm trên 95%, trong khi ở Việt Nam giai đoạn 1998 - 1999 chỉ đạt khoảng 30% và thời điểm nghiên cứu dao động từ 37% đến 39%. Đối với hàng hóa xuất khẩu, dịch vụ công giữ vai trò tạo hành lang pháp lý và điều phối vĩ mô, còn dịch vụ thương mại tạo giá trị gia tăng, rút ngắn thời gian luân chuyển hàng hóa và thu về ngoại tệ (kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam giai đoạn 1999 - 2002 đạt 344 triệu USD). Về mặt xã hội, phát triển dịch vụ thúc đẩy phân công lao động và giảm tỷ lệ thất nghiệp (giảm 3% tỷ lệ thất nghiệp có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khoảng 1%).

Về kinh nghiệm quốc tế, luận án phân tích 3 mô hình điển hình:

  • Trung Quốc: Xác định dịch vụ là trọng tâm phát triển; giá trị ngành dịch vụ tăng từ 86,1 tỷ Nhân dân tệ (1978) lên 3.766,9 tỷ Nhân dân tệ (2003), bình quân đầu người tăng từ 89 lên 2.897 Nhân dân tệ. Ngày 15/11/2004, Ủy ban Điều tiết Bảo hiểm Trung Quốc (CIRC) cấp phép thành lập Công ty Bảo hiểm Tương hỗ Nông nghiệp Sunshine; chương trình thử nghiệm bảo hiểm từ năm 1993 đã bồi thường cho nông dân 1,08 tỷ Nhân dân tệ (~130 triệu USD). Chương trình "Đốm lửa" với hơn 10 tỷ USD hỗ trợ hợp tác xã (HTX), đào tạo 60 triệu thanh niên nông thôn, đưa tăng trưởng xuất khẩu nông sản đạt trên 40% (1995 - 2003). Chương trình công nghiệp chế biến nông sản kết nối trực tiếp doanh nghiệp chế biến và nông dân.
  • Thái Lan: Vận hành phong trào HTX theo Luật HTX năm 1968 dưới sự quản lý của Liên đoàn HTX Thái Lan (CLT). Tính đến tháng 5/2003, Thái Lan có 7.610 HTX với 13,8 triệu xã viên, trong đó có 4.370 HTX nông nghiệp (chiếm 6,49 triệu xã viên). Mô hình HTX dịch vụ trái cây thành lập năm 1964 từ 30 xã viên phát triển lên hơn 2,8 triệu xã viên; chương trình xuất khẩu chuối vàng sang HTX Toto (Nhật Bản) đạt thu nhập 50.900 baht/hộ/năm. Mô hình chợ đầu mối nông sản Talad Thai (huyện Klong Luang, Pathumthani) có diện tích 5 ha, cung cấp 80% trái cây có múi của Thái Lan, thu hút 10.000 người giao dịch 24/24 giờ và 30.000 lượt xe/ngày. Chợ có khu dịch vụ xử lý sau thu hoạch rộng 2.600 m2 sức chứa 340 tấn hàng đông lạnh (-20 độ C trong 5 giờ), đem lại lợi nhuận 250 triệu baht/năm (~5,9 triệu USD) cho chủ đầu tư tư nhân và được miễn thuế 8 năm.
  • Đài Loan: Quy mô diện tích gần 36.000 km2 (2/3 là đồi núi, đất trồng 920.000 ha), dân số 24 triệu người (dân số nông nghiệp 3,9 triệu người), thu nhập bình quân đầu người năm 2003 đạt 23.000 USD. Đài Loan thành lập Trung tâm Công nghệ sinh học quốc gia với 5 cơ sở; kiểm soát nghiêm ngặt việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; bắt buộc nông dân bao trái non; phát triển công nghệ giống cho thu hoạch 2 - 3 vụ/năm và lai tạo thành công giống thanh long ruột vàng vỏ đỏ từ nguồn giống nhập khẩu của Việt Nam. Hệ thống chợ bán buôn vận hành theo phương thức đấu giá công khai qua mạng điện tử.

Tác giả đúc kết 6 bài học: vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước; phát triển mô hình HTX nòng cốt để liên kết 4 nhà; tập trung công nghệ giống; dịch vụ tạo giá trị gia tăng; phát triển bảo hiểm nông nghiệp; đào tạo và tập huấn khoa học kỹ thuật cho nông dân.

Tiêu chí Mô hình Trung Quốc Mô hình Thái Lan Mô hình Đài Loan
Công cụ hỗ trợ nông dân Chương trình "Đốm lửa" (>10 tỷ USD); phát triển công nghiệp chế biến Hệ thống CLT theo Luật HTX 1968; Quỹ hỗ trợ chế biến thực phẩm Quỹ hỗ trợ nghiên cứu KHCN; Quỹ hỗ trợ giá tư liệu sản xuất và trượt giá
Tổ chức thị trường đầu ra Liên kết trực tiếp giữa xí nghiệp chế biến đầu tàu và nhà nông Chợ đầu mối Talad Thai (5 ha; khu dịch vụ sau thu hoạch 2.600 m2) Chợ bán buôn đấu giá trực tiếp; hệ thống thông tin truyền hình trực tuyến
Kiểm soát kỹ thuật & rủi ro Bảo hiểm nông nghiệp tương hỗ Sunshine (CIRC thành lập 15/11/2004) Xử lý lạnh (-20°C trong 5 giờ); ban quản lý chợ liên kết Cục Khuyến nông Bắt buộc bao trái non; kiểm soát thuốc BVTV; Trung tâm CNSH quốc gia (5 cơ sở)

Chương 2: Thực trạng một số dịch vụ sản xuất và xuất khẩu hàng hóa trái cây Đồng bằng sông Cửu Long

Chương 2 phân tích thực trạng các dịch vụ cung ứng đầu vào và đầu ra dựa trên dữ liệu sơ cấp và thứ cấp của các tỉnh ĐBSCL. Tác giả chỉ ra rằng tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch của trái cây ĐBSCL lên đến 30% do sự lạc hậu của các dịch vụ bảo quản, sơ chế và đóng gói. Dịch vụ cung cấp giống mang tính thủ công, thiếu kiểm soát chất lượng, dẫn đến tình trạng sâu bệnh và chất lượng quả không đồng đều. Dịch vụ công và hành chính sự nghiệp còn bộc lộ sự trì trệ trong quản lý, chưa phát huy được vai trò "nhạc trưởng" điều phối chuỗi giá trị và thiếu quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung.

Điểm nghẽn nghiêm trọng được luận án làm rõ là thực trạng dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp: các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại đã dừng hoạt động cung cấp bảo hiểm nông nghiệp tại ĐBSCL từ năm 2004 do tỷ lệ rủi ro quá cao và thiếu khung chính sách hỗ trợ chia sẻ rủi ro từ phía Nhà nước. Mối liên kết 4 nhà (Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà vườn) còn mang tính hình thức. Kết quả khảo sát xã hội học của tác giả ghi nhận nhận thức của nông dân về vai trò của dịch vụ còn hạn chế; người sản xuất thiếu thông tin thị trường và phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống thương lái thu mua tự do. Tuy nhiên, vùng cũng xuất hiện một số mô hình điển hình thành công như Doanh nghiệp Hoàng Gia (Vĩnh Long) đầu tư chế biến nước bưởi Năm Roi xuất khẩu sang Mỹ và Thụy Sĩ, hay Doanh nghiệp Hoàng Hậu (Bình Thuận) xuất khẩu thanh long sang thị trường châu Âu.

Chương 3: Quan điểm và giải pháp phát triển một số dịch vụ sản xuất – xuất khẩu hàng hóa trái cây Đồng bằng sông Cửu Long

Chương 3 xây dựng hệ thống giải pháp phát triển dịch vụ theo trình tự logic biện chứng, xác định kết quả của dịch vụ trước là nền tảng bảo đảm chất lượng cho dịch vụ tiếp theo:

  • Hoàn thiện dịch vụ công: Nâng cao năng lực hoạch định, đơn giản hóa thủ tục hành chính hải quan và kiểm dịch nhằm rút ngắn thời gian thông quan; phát huy vai trò "nhạc trưởng" của Nhà nước trong quy hoạch vùng chuyên canh chiến lược.
  • Tái lập dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp: Vận dụng bài học từ Công ty Sunshine (Trung Quốc), luận án đề xuất mô hình công ty bảo hiểm tương hỗ nông nghiệp, có sự tài trợ ban đầu và bảo trợ rủi ro từ ngân sách Nhà nước, kết hợp với các nhà khoa học để đánh giá và giảm thiểu rủi ro dịch bệnh.
  • Nâng cao chất lượng dịch vụ đầu vào: Ứng dụng tiến bộ sinh học vào dịch vụ chọn tạo và chuyển giao giống kháng sâu bệnh, cho quả trái vụ (học tập mô hình Đài Loan); kiểm soát chặt chẽ mạng lưới phân phối phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; chuẩn hóa dịch vụ khuyến nông và tập huấn kỹ thuật bao trái.
  • Phát triển dịch vụ đầu ra và logistics: Xây dựng hệ thống chợ đầu mối trái cây chuyên doanh gắn liền với các phân khu dịch vụ xử lý sau thu hoạch (chiếu xạ, làm lạnh sâu, đóng gói theo tiêu chuẩn quốc tế tương tự chợ Talad Thai của Thái Lan).
  • Đổi mới tổ chức HTX: Củng cố mô hình HTX nông nghiệp dịch vụ kiểu mới, đại diện cho xã viên đứng ra mua vật tư số lượng lớn để giảm chi phí đầu vào, đồng thời tổ chức tiêu thụ và ủy quyền đấu giá sản phẩm tại các chợ đầu mối nhằm loại bỏ các tầng nấc trung gian thương lái.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kinh tế dịch vụ và dịch vụ trong nông nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi cơ chế và hội nhập WTO.
  • Làm rõ bản chất của dịch vụ nông nghiệp là các hoạt động "phần mềm" chi phối chất lượng sản phẩm hữu hình; luận giải tính tất yếu của việc Nhà nước can thiệp cung ứng các dịch vụ công và dịch vụ bảo hiểm khi thị trường tự do thất bại.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh thực trạng về hệ thống dịch vụ phục vụ xuất khẩu trái cây ĐBSCL thông qua số liệu điều tra sơ cấp giai đoạn 2001 - 2005.
  • Xác định nguyên nhân gốc rễ dẫn đến sự thoái trào của thị trường bảo hiểm nông nghiệp tại ĐBSCL từ năm 2004.
  • Đề xuất chuỗi giải pháp dịch vụ khép kín theo chuỗi liên hoàn biện chứng từ khâu giống, chăm sóc, thu hái, bảo quản đến xúc tiến thương mại, khắc phục tình trạng phân tán của các giải pháp kỹ thuật đơn lẻ.

Kiến nghị, giải pháp đề xuất:

  • Kiến nghị Nhà nước ban hành cơ chế thành lập công ty bảo hiểm tương hỗ nông nghiệp và quỹ hỗ trợ trượt giá nông sản xuất khẩu.
  • Quy hoạch và đầu tư cơ sở hạ tầng cho mô hình chợ đầu mối trái cây ĐBSCL tích hợp trung tâm xử lý kỹ thuật sau thu hoạch.
  • Hoàn thiện thể chế kinh tế HTX dịch vụ, tạo cơ sở pháp lý và vốn ưu đãi để các HTX nông nghiệp thực hiện chức năng kinh doanh dịch vụ đầu vào và đại diện tiêu thụ đầu ra.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án tự xác định phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào một số dịch vụ cốt lõi, chủ động không đi sâu vào các phân ngành logistics chuyên biệt như giao nhận ngoại thương, vận tải đường biển, bưu chính viễn thông và tín dụng ngân hàng. Luận án cũng không đào sâu khâu công nghệ chế biến sâu do những tranh luận quốc tế chưa thống nhất về tác dụng phụ của hóa chất bảo quản, đồng thời chưa bao quát mảng thị trường tiêu thụ trái cây nội địa.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phân tích sang chuỗi dịch vụ logistics vận tải đa phương thức và dịch vụ chuỗi cung ứng lạnh (cold chain) chuyên dụng cho trái cây xuất khẩu.
  • Nghiên cứu sâu các rào cản kỹ thuật kiểm dịch thực vật (SPS) tại các thị trường nhập khẩu phát triển.
  • Nghiên cứu mô hình dịch vụ liên kết tiêu thụ nông sản trái cây kết hợp giữa kênh xuất khẩu và hệ thống siêu thị bán lẻ nội địa.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng và lĩnh vực cụ thể:

  • Nhà hoạch định chính sách tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thương mại, các Sở ban ngành tại ĐBSCL trong việc xây dựng thể chế quản lý dịch vụ công, quy hoạch chợ đầu mối và thiết kế chính sách bảo hiểm nông nghiệp.
  • Ban quản trị các HTX nông nghiệp và các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu trái cây trong việc tổ chức quy trình dịch vụ sau thu hoạch và thiết lập mạng lưới liên kết sản xuất.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Kinh doanh thương mại và Quản lý kinh tế tham khảo khung lý thuyết phân loại dịch vụ nông nghiệp và kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia trong khu vực.

Nội dung đáng tham khảo nhất là hệ thống dữ liệu kinh nghiệm quốc tế về chợ đầu mối Talad Thai, mô hình bảo hiểm Sunshine của Trung Quốc và phương pháp tiếp cận dịch vụ như một mắt xích tạo giá trị gia tăng cho nông sản xuất khẩu.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án cho rằng xuất khẩu trái cây ĐBSCL giảm sút xuất phát từ khoảng trống dịch vụ chứ không phải do chất lượng giống tự nhiên? Theo phân tích của tác giả, ĐBSCL sở hữu nhiều giống trái cây ngon, nhưng xuất khẩu giảm sút do tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch lên tới 30%, kỹ thuật thu hái, bảo quản, đóng gói kém phát triển và thiếu vùng chuyên canh chiến lược. Các nghiên cứu trước chỉ tập trung vào canh tác kỹ thuật; sự thiếu vắng của hệ thống dịch vụ hỗ trợ đồng bộ (dịch vụ giống chuẩn, dịch vụ bảo quản lạnh, chiếu xạ, kiểm dịch và thông tin thị trường) đã làm suy giảm giá trị thương phẩm khi ra thị trường quốc tế.

2. Mô hình chợ đầu mối trái cây Talad Thai của Thái Lan được tổ chức như thế nào và có điểm gì đáng chú ý? Chợ Talad Thai có quy mô 5 ha tại Pathumthani, cung cấp 80% trái cây có múi của Thái Lan, thu hút 10.000 người buôn bán 24/24 giờ và 30.000 lượt xe mỗi ngày. Chợ do công ty tư nhân đầu tư và được Nhà nước miễn thuế 8 năm, đạt lợi nhuận 250 triệu baht/năm (~5,9 triệu USD). Điểm đáng chú ý là chợ tích hợp trung tâm dịch vụ xử lý sau thu hoạch rộng 2.600 m2 sức chứa 340 tấn, có khả năng làm lạnh sâu sầu riêng ở -20 độ C trong 5 giờ, thực hiện trọn gói dịch vụ phân loại, bao bì, xử lý hơi nước nóng diệt ruồi đục quả và hoàn tất thủ tục xuất khẩu.

3. Vì sao dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp tại ĐBSCL ngừng hoạt động vào năm 2004 và giải pháp từ kinh nghiệm Trung Quốc là gì? Dịch vụ bảo hiểm cho ngành trái cây ĐBSCL bị gián đoạn do rủi ro thiên tai dịch bệnh quá lớn, trong khi các công ty bảo hiểm thương mại hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận đơn thuần nên không thể duy trì nếu thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro từ Nhà nước. Để giải quyết, luận án dẫn kinh nghiệm Trung Quốc thành lập Công ty Bảo hiểm Tương hỗ Sunshine (tháng 11/2004), hoạt động không vì lợi nhuận, được Nhà nước bảo trợ tài chính và có sự tham gia của các nhà khoa học để dự báo và kiểm soát tổn thất, đã chi trả bồi thường 1,08 tỷ Nhân dân tệ giúp nông dân yên tâm sản xuất.

4. Khái niệm "phần mềm" trong nông nghiệp được luận án định nghĩa như thế nào? Tác giả định nghĩa dịch vụ nông nghiệp là các hoạt động "phần mềm" tạo ra sản phẩm hàng hóa phi vật thể, luôn gắn liền hữu cơ với sản phẩm vật chất hữu hình. Ví dụ: dịch vụ cung ứng giống gắn với cây giống; quy trình tư vấn khuyến nông, chế độ bón phân, kỹ thuật bao trái, bảo quản sau thu hoạch, tiếp thị và phân phối đều là các hoạt động dịch vụ vô hình nhưng mang tính quyết định đến chất lượng, độ an toàn và giá trị gia tăng của trái cây thương phẩm.

5. Những lĩnh vực nào bị loại trừ khỏi phạm vi nghiên cứu của luận án và lý do cụ thể? Luận án loại trừ 3 lĩnh vực: (1) Các dịch vụ giao nhận ngoại thương, vận tải thông thường, bưu chính viễn thông, tín dụng ngân hàng vì đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu khác giải quyết; (2) Lĩnh vực chế biến sâu trái cây vì tại thời điểm nghiên cứu các nhà khoa học thế giới đang tranh luận gay gắt về tác dụng phụ của hóa chất bảo quản; (3) Thị trường tiêu thụ nội địa vì luận án tập trung mục tiêu giải quyết bài toán cấp bách về gia tăng sản lượng xuất khẩu cho ĐBSCL khi hội nhập WTO.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Cao Việt Hiếu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế dịch vụ trong nông nghiệp và phân tích bức tranh thực trạng dịch vụ sản xuất – xuất khẩu trái cây tại vùng ĐBSCL giai đoạn 2001 - 2005. Bằng việc làm rõ các điểm nghẽn về tổn thất sau thu hoạch, sự vắng bóng của dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp và tính lỏng lẻo trong liên kết 4 nhà, tác giả đã chứng minh vai trò quyết định của dịch vụ đối với sức cạnh tranh của nông sản xuất khẩu. Dựa trên các bài học thực tiễn từ Trung Quốc, Thái Lan và Đài Loan, công trình đã đề xuất một hệ thống giải pháp liên hoàn từ quy hoạch dịch vụ công, tổ chức HTX dịch vụ đến xây dựng chợ đầu mối chuyên doanh nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững ngành hàng trái cây ĐBSCL.