CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis – EMH) Đối với mỗi sự kiện xảy ra, các nhà đầu tư sẽ có những quyết định đầu tư khác nhau trong quá trình tham gia thị trường và điều đó ảnh hưởng đến sự cân bằng giá cổ phiếu trên thị trường. Thuyết thị trường hiệu quả là vấn đề đã gây nên nhiều tranh cãi cho các nhà nghiên cứu qua nhiều thập kỷ. Và cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một kết luận chính thức về việc một thị trường có hiệu quả hay không.
Một thị trường được coi là hiệu quả khi nó hiệu quả về mặt phân phối, hiệu quả về mặt hoạt động của thị thị trường và hiệu quả về mặt thông tin. Nguồn gốc của EMH có thể được bắt nguồn từ Eugene F. Fama và Paul A. Samuelson trong những năm 1960.
Đáng chú ý, hai nhà nghiên đã độc lập phát triển cùng một khái niệm cơ bản về hiệu quả thị trường từ hai chương trình nghiên cứu khác nhau. Những sự khác biệt sẽ đẩy chúng đi theo hai quỹ đạo riêng biệt dẫn đến một số các bước đột phá và cột mốc quan trọng, tất cả đều bắt nguồn từ điểm giao nhau của chúng, EMH. Giống như rất nhiều ý tưởng của kinh tế học hiện đại, EMH lần đầu tiên được đưa ra bởi Paul Samuelson (1965), người có đóng góp được tóm tắt gọn gàng bằng tiêu đề bài báo của ông: “Proof that Properly Anticipated Prices Fluctuate Randomly”. Trong một thị trường hiệu quả về mặt thông tin, giá cả của các cổ phiếu giao dịch trên thị trường phản ánh đầy đủ và nhanh chóng các thông tin có liên quan đến mã cổ phiếu đó.
Những thông tin đó có thể bao gồm những thông tin khác nhau về môi trường kinh tế vĩ mô, vi mô, tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp. Sau khi phát triển một loạt các giải pháp cho các mô hình định giá theo không gian mà không có sự chắc chắn, Samuelson nảy ra ý tưởng về thị trường hiệu quả thông qua việc quan tâm đến việc định giá tạm thời mô hình bảo quản hàng hóa được thu hoạch và bị phân hủy. Ngược lại với con đường của Samuelson đến EMH, Fama (1963; 1965a; 1965b; 1970) sự quan tâm của ông được đo lường bằng các phương pháp thống kê giá cổ phiếu và giải quyết cuộc tranh luận giữa phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản. 5 Có thể nói, thị trường hiệu quả về mặt thông tin có tác động mạnh mẽ đến sự thành công của thị trường và nó cũng chính là đối tượng nghiên cứu mà Eugene Fama đã mất nhiều công sức sau khi lý thuyết bước đi ngẫu nhiên từ Karl Pearson (1905) (random walk hay drunkard walk concept) đã bị bỏ qua.
Từ những nghiên cứu sau đó của Kendall (1953) về chỉ số trên thị trường chứng khoán Anh cũng như giá cả hàng hóa có thể tăng giảm ngẫu nhiên nhờ vào bất cứ sự kiện nào xảy ra ngày hôm trước; Roberts (1959) cũng tìm thấy kết quả tương tự với các chỉ số của Mỹ hay Osborne (1959) cũng đã nghiên cứu và chứng minh giá cổ phiếu Hoa Kỳ biến động ngẫu nhiên giống như các hạt phân tử… Fama phát triển lý thuyết bước đi như là một mô tả chính xác về thực tế. Vào thời điểm đó, phân tích cơ bản hoặc phân tích kỹ thuật thường được sử dụng và hỗ trợ các phương pháp dự đoán giá cổ phiếu của các chuyên gia thị trường. Fama đã đặt lý thuyết bước đi ngẫu nhiên tương phản đối với phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật. Ông cũng tuyên bố, logic đằng sau phân tích kỹ thuật là lịch sử có xu hướng lặp lại.
Theo ông, không thể đạt được lợi nhuận bất thường bằng cách nhìn vào sự thay đổi của giá trong quá khứ vì giá thay đổi là độc lập. Đầu năm 1970, Fama đã trình bày một bước ngoặt về lý thuyết thị trường hiệu quả trong cuốn sách “Efficient Capital Markets: A Review of Theory and Empirical Work. Thực tế, trên thị trường vốn, thị trường hiệu quả có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Nhưng Fama cho rằng: “Thị trường mà tại đó giá luôn phản ánh những thông tin sẵn có, được gọi là thị trường hiệu quả”.
Trong khi đó, Malkiel (1992) có kết luận rằng trong một thị trường được coi là hiệu quả nếu thị trường phản ánh đầy đủ và chính xác tất cả các thông tin liên quan trong việc xác định giá chứng khoán. Tuy nhiên, thị trường sẽ được coi là hiệu quả nếu giá chứng khoán không bị ảnh hưởng do tiết lộ thông tin đó đến những người tham gia. Theo Fama, có 3 mức giả thuyết bao gồm thị trường hiệu quả dạng yếu, dạng vừa và dạng mạnh - đại diện cho ba mức giả định khác nhau về hiệu quả thị trường - Đối với thị trường hiệu quả dạng yếu: Dạng yếu của EMH giả định rằng giá chứng khoán phản ánh tất cả thông tin thị trường công khai sẵn có nhưng có thể không phản ánh thông tin mới chưa được công bố rộng rãi. Nó cũng giả định rằng thông tin trong quá khứ liên quan đến giá cả, khối lượng và lợi nhuận là độc lập với giá trong tương lai.
Điều này mang ý nghĩa rằng các nhà đầu tư 6 trên thị trường không thể sử dụng những dữ liệu trong quá khứ để dự báo biến động giá trong tương lai mà chỉ có thể kiếm được lợi nhuận nhờ vào các dữ liệu lịch sử thông qua việc phân tích cơ bản - phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp và các thông tin sự kiện liên quan khác. - Đối với thị trường hiệu quả dạng vừa: Giá cổ phiếu trên thị trường sẽ điều chỉnh quan trọng và phản ứng ngay với thông tin đã được công bố. Giả thuyết này bao gồm cả thị trường hiệu quả dạng yếu, vì các dữ liệu về giá cả, tỷ suất sinh lời hay khối lượng giao dịch trong quá khứ đều là các thông tin đã được công khai. Do đó, điều này khiến phân tích cơ bản không có khả năng dự đoán về biến động giá trong tương lai và phân tích kỹ thuật đều không thể mang lại lợi thế cho nhà đầu tư.
- Đối với thị trường hiệu quả dạng mạnh: Thị trường có hiệu quả vì thông tin mạnh nhất khi giá chứng khoán phản ánh toàn bộ thông tin công khai và cá nhân. Điều này bao gồm tất cả thông tin từ các nguồn tin công bố, cả dữ liệu lịch sử và mới, hoặc hiện tại, cũng như các thông tin nội bộ. Ngay cả những thông tin không được công bố rộng rãi cho các nhà đầu tư, chẳng hạn như thông tin cá nhân chỉ được biết đến với CEO của một công ty, được cho là luôn luôn được tính vào giá cổ phiếu hiện tại của công ty. Vì vậy, theo giả định này, các nhà đầu tư khó có thể kiếm được mức lợi nhuận cao hơn giá trung bình của thị trường dựa trên những thông tin mà họ có.
Tuy nhiên, thị trường hiệu quả có thể bị thay đổi dựa vào nhiều yếu tố như đặc điểm chứng khoán, ngoài ra còn có yếu tố tâm lý của nhà đầu tư. Thực tế, nếu thị trường hiệu quả thực sự tồn tại, các nhà đầu tư không thể sử dụng thông tin công khai như giá cổ phiếu trong quá khứ hay khối lượng giao dịch nhằm tìm kiếm lợi nhuận bất thường trên thị trường chứng khoán. Do đó, các nhà đầu tư không nên lãng phí thời gian trong việc phân tích cổ phiếu, mà thay vào đó nên đa dạng hóa các danh mục đầu tư. Có thể nói lý thuyết thị trường hiệu quả cũng đã mang lại được những định hướng đầu tư khác biệt trên thị trường.
Vậy nhưng không phải lúc nào thị trường chứng khoán cũng đạt được mức hiệu quả cao nhất - thị trường hiệu quả dạng mạnh. 7 Điều đó sẽ được kiểm định dựa trên những phương pháp phân tích dữ liệu và các phần mềm thống kê 1. Kiểm định giả thuyết thị trường hiệu quả Sau khi phân tích về thị trường hiệu quả, Jesen (1978) cho rằng không có đề xuất nào trong kinh tế học có bằng chứng thuyết phục hơn lý thuyết thị trường hiệu quả. Giả thuyết này được cho là phù hợp với dữ liệu ở các thị trường chứng khoán khsac nhau như sở GDCK New York, Mỹ, Úc, Anh và đức, các thị trường tương lai hàng hóa, thị trường phi tập trung, thị trường trái phiếu chính phủ… Tuy nhiên, việc thị trường hiệu quả dạng vừa không thực sự ổn định đã gây nên sự tranh luận giữa các nhà nghiên cứu.
Kiểm tra giới hạn phương sai Các nhà nghiên cứu đã tập hợp các thử nghiệm thực nghiệm khác của EMH bắt đầu với việc quan sát rằng trong một thị trường không có sự chắc chắn, giá cổ phiếu phổ thông phải phù hợp với giá trị hiện tại của cổ tức trong tương lai (được chiết khấu với giá vốn thích hợp). Trong đó, người ta có thể khái quát hóa mô hình chiết khấu cổ tức hoặc mối quan hệ giá trị hiện tại này theo cách tự nhiên: giá thị trường bằng kỳ vọng với điều kiện giá trị hiện tại của tất cả cổ tức trong tương lai sẽ được chiết khấu với chi phí vốn, được điều chỉnh theo các thông tin mang tính rủi ro và với điều kiện phù hợp với tất cả các thông tin. Khái niệm này được phát triển một cách rõ ràng bởi Grossman và Shiller (1981). LeRoy và Porter (1981) và Shiller (1981) coi đây là điểm xuất phát của họ trong so sánh phương sai của giá thị trường chứng khoán với phương sai của giá trị hiện tại trước sau cổ tức trong tương lai.
Sau khi sử dụng dữ liệu thị trường chứng khoán hàng năm của Hoa Kỳ từ các giai đoạn mẫu khác nhau, LeRoy và Porter (1981) và Shiller (1981) nhận thấy rằng giới hạn phương sai gặp nhiều lỗi đáng kể. Mặc dù LeRoy và Porter thận trọng hơn về tác động của những lỗi này nhưng Shiller lại kết luận rằng giá thị trường chứng khoán quá biến động và EMH phải là sai. Hai nghiên cứu này đã gây ra một loạt các phản hồi tranh luận với kết luận của Shiller trên một số phương diện. Có thể nhắc đến Flavin (1983), Kleidon (1986) và Marsh và Merton (1986) đều chỉ ra rằng mô hình thống kê cho kết quả khá tinh vi đối với các giới hạn phương sai này, và ngay cả khi họ hiểu rõ lý thuyết nhưng đối với 8 kích thước mẫu mà Shiller sử dụng cùng các quy trình thu thập dữ liệu hợp lý, giới hạn phương sai mẫu vẫn có thể gặp lỗi do sự biến đổi mẫu.