CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆP ĐỊNH EVFTA 1. Tìm hiểu về các hiệp định FTA 1. Khái niệm về các hiệp định FTA 1. Khái niệm FTA là từ viết tắt của cụm từ tiếng anh Free Trade Area.
Dịch sang nghĩa Tiếng Việt của cụm từ đó là hiệp định thương mại tự do. Cho đến ngày này đã có rất nhiều quan điểm khác nhau được các quốc gia và tổ chức đưa ra để định nghĩa về khái niệm FTA của riêng mình. Tuy nhiên đa số các tổ chức và quốc gia trên thế giới chấp nhận những khái niệm sau: Theo trang web chính thức của của Chính phủ Singapore thì: “FTA là một thỏa thuận pháp lý ràng buộc giữa hai hay nhiều quốc gia để giảm thiểu hoặc loại bỏ các rào cản thương mại và tạo thuận lợi cho chuyển dịch hàng hóa và dịch vụ qua biên giới các vùng lãnh thổ của các bên” Theo trang web chính thức của của Chính phủ Hoa Kỳ thì lại cho rằng “FTA là sự đàm phán của hai hay nhiều quốc gia nhằm cắt giảm tất cả các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với thương mại giữa các thị trường của các nước thành viên. Mỗi nước vẫn có thể áp dụng các rào cản thuế quan và rào cản thương mại khác đối với các quốc gia không tham gia ký kết hiệp định này” Tóm lại, các khái niệm trên đều đang hướng đến một nội dung cốt lõi là: “FTA là thỏa thuận của hai hay nhiều quốc gia (hoặc vùng lãnh thổ) nhằm loại bỏ các rào cản đối với phần lớn thương mại giữa các thành viên với nhau.
Phân loại Hiện nay các FTA có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, rất đa dạng. Trong đó có thể kể đến 3 tiêu chí phổ biến nhất, bao gồm: Thứ nhất, dựa trên tiêu chí quy mô và số lượng các thành viên tham gia. Đây là cách phân loại giúp nhận ra sự khác nhau tương đối nhất giữa các FTA. Dựa theo tiêu chí này thì FTA được chia làm ba loại: FTA song phương, FTA đa phương và FTA hỗn hợp.
- FTA song phương FTA song phương là thỏa thuận được kết kết giữa hai quốc gia hoặc vùng lãnh thổ mà không có bất kỳ sự can thiệp của bên thứ 3 nào. Với ưu thế là nhanh chóng, 7 đơn giản, dễ đạt được sự thống nhất giữa các bên nên FTA song phương được phổ biến mạnh mẽ và có thể có nhiều tiềm năng phát triển hơn nữa trong tương lai. Các FTA song phương mà Việt Nam đã kết kết có thể kể đến như: FTA song phương giữa Việt Nam và Chile có hiệu lực từ ngày 01/01/2014, FTA song phương giữa Việt Nam và Nhật Bản có hiệu lực từ ngày 25/12/2008. FTA Việt Nam –Chile là một trong số những FTA song phương mà rất được VN coi trọng và đánh giá cao.
Với 14 chương bao gồm 104 Điều và 8 phụ lục. Tuy nhiên các nội dung mà hiệp định mang lại bao phủ không rộng. Hiệp định chỉ đề cập đến khía cạnh hàng hóa, như các quy định về tạo thuận lợi cho tiếp cận thị trường, quy tắc xuất xứ, các biện pháp vệ sinh dịch tễ, kiểm dịch động thực vật, rào cản kỹ thuật, phòng vệ thương mại. Theo đó những gì đã cam kết thì Việt Nam cam kết xóa bỏ 87,8% số dòng thuế (91,22% kim ngạch nhập khẩu tại thời điểm 2007) cho Chile trong vòng 15 năm.
Về phía Chile cũng sẽ tiến hành xóa bỏ thuế quan cho 99,62% kim ngạch xuất khẩu (ở thời điểm năm 2007) của Việt Nam trong vòng 10 năm. Trong số những cảm kết đó của Chile thì có đến 81,8% kim ngạch và 83,54%dòng thuế sẽ được xóa bỏ ngay. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sẽ được cắt giảm thuế ngay và nhanh từ mức 6% hiện tại là dệt may (203 dòng thuế giảm ngay về 0%, 17 dòng thuế giảm 0% sau 5 năm), thủy sản (36 dòng thuế giảm ngay về 0%, 28% dòng thuế giảm 0% sau 5 năm), thủy sản, cà phê, chè, máy tính và linh kiện (giảm thuế về 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực). Quy tắc xuất xứ của hiệp định cũng tương đối đơn giản, đa số hàng hóa chỉ cần có tỷ lệ nguyên vật liệu được sản xuất từ các nước thành viên (Việt Nam hoặc Chile) chiếm từ 40% trở lên hoặc qua chuyển đổi mã HS ở cấp 4 số là được hưởng ưu đãi thuế quan.
Việt Nam và Chile hiện cũng là thành viên trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương gồm 12 nước. Ký kết FTA này ngoài mục đích tăng cường tiếp cận thị trường Chile còn là cơ hội để hàng hóa Việt Nam thâm nhập các thị trường khác trong khu vực Mỹ La tinh rộng lớn. - FTA đa phương FTA đa phương là thỏa thuận được kết kết từ 3 quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trở lên. Do có sự tham gia bởi nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ nên hiệp định này thường mất nhiều thời gian, khó đạt được sự thống nhất hơn so với FTA song phương 8 Một số ví dụ cho hình thức FTA đa phương có thể kể đến như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN, Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu có hiệu lực ngày 03/05/19560.
Chẳng hạn như khu vực mậu dịch tự do ASEAN là điểm sáng của FTA đa phương ở VN. Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (viết tắt là AFTA từ các chữ cái đầu của ASEAN Free Trade Area) là một hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương giữa các nước trong khối ASEAN. Theo đó, sẽ thực hiện tiến trình giảm dần thuế quan xuống 0-5%, loại bỏ dần các hàng rào thuế quan đối với đa phần các nhóm hàng và hài hòa hóa thủ tục hải quan giữa các nước, thúc đẩy hội nhập kinh tế với các quốc gia khác trong khu vực và quốc tế. Sáng kiến về AFTA vốn là của Thái Lan.
Sau đó hiệp định về AFTA được ký kết vào ngày 28 tháng 1 năm 1992 tại Singapore. Ban đầu chỉ có sáu nước là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan (gọi chung là ASEAN-6). Các nước Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam (gọi chung là CLMV) được yêu cầu tham gia AFTA khi được kết nạp vào khối này. Hiện tại đây là một trong những khu vực mậu dịch tự do lớn nhất thế giới.
- FTA hỗn hợp FTA hỗn hợp là loại hiệp định được kết hợp giữa FTA song phương và FTA đa phương. Loại hiệp định này chỉ có sự tham gia và ký kết giữa hai bên (một bên là một khu mậu dịch tự do và một bên là một hoặc một số quốc gia đối tác), và phạm vi tác động, ảnh hưởng là nhiều quốc gia. FTA đã tích hợp được ưu điểm của hai loại FTA song phương và FTA đa phương nên FTA hỗn hợp đã ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Có thể kể đến các FTA hỗn hợp có sức ảnh hưởng lớn như: FTA ASEAN - Hàn Quốc, FTA ASEAN - Trung Quốc.
Tuy nhiên có thể thấy FTA hỗn hợp bên cạnh việc tạo một thị trường nhiều tiềm năng cho các thành viên nhưng vẫn còn có những nhược điểm như khó khăn trong việc đàm phán. FTA Trung Quốc - ASEAN chính thức có hiệu lực giúp các quốc gia châu Á đẩy mạnh xuất khẩu, đặc biệt đối với những loại hàng hóa mà quốc gia “khát” năng lượng như Trung Quốc đang cần. Theo số liệu thống kê, kim ngạch thương mại Trung Quốc-ASEAN đã tăng 9 lần, từ 54,8 tỷ USD (2002) lên 480,4 tỷ USD (2014). Hiệp định CAFTA là hiệp định thương mại tự do lớn nhất với giá trị tăng trưởng vượt bậc 9 từ 190 tỷ USD năm 2008 lên 345 tỷ USD năm 2016.
Trong khi đó, tổng vốn đầu tư của Trung Quốc và ASEAN vào các thị trường của hai bên đã tăng lên trên 150 tỷ USD, tạo sức bật mới cho hợp tác khu vực. Dự báo, Trung Quốc sẽ trở thành quốc gia tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới đến năm 2030. Trung Quốc hiện đã vượt Nhật Bản để trở thành quốc gia tiêu thụ dầu mỏ lớn thứ 2 trên thế giới (với mức độ tiêu thụ gần 10 triệu thùng/ngày) và khoảng 13-14 triệu thùng/ngày (2025), trong đó lượng nhập khẩu chiếm 70% tổng nhu cầu. Do vậy, ký kết FTA với ASEAN giúp Trung Quốc có nhiều cơ hội nhập khẩu nguồn nguyên, nhiên liệu.
Các giao dịch thương mại FTA của Trung Quốc ngày càng tăng cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Việc giảm thuế xuất nhập khẩu cùng với việc miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu thô và nhiều nguyên liệu đầu vào khác góp phần quan trọng đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc như là một trung tâm của mạng lưới sản xuất toàn cầu. FTA giúp nâng cao vị thế của Trung Quốc trong mạng lưới sản xuất và là động lực để Bắc Kinh theo đuổi nhiều thỏa thuận thương mại với các quốc gia khác. Thứ hai, dựa trên tiêu chí là phạm vi và nội dung cam kết.
Nếu căn cứ theo tiêu chí này thì FTA gồm hai loại là: FTA truyền thống và FTA hỗn hợp - FTA truyền thống FTA truyền thống là các FTA được đàm phán, ký kết trong giai đoạn đầu, thường có phạm vi hẹp, mức độ tự do hóa hạn chế. Về nội dung, các FTA truyền thống thường chỉ bao gồm các cam kết tự do hóa thương mại trong lĩnh vực thương mại hàng hóa (mà quan trọng nhất là xóa bỏ thuế quan đối với khoảng 70-80% số dòng thuế). Một số ít có thêm các cam kết tự do hóa thương mại dịch vụ (mở cửa thêm các dịch vụ so với mức mở cửa trong WTO) và các nguyên tắc chung về đầu tư, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh… Tuy nhiên, những cam kết về các vấn đề này thường là chung chung, ít ràng buộc cụ thể ở mức cao. Tất cả các FTA mà Việt Nam đã ký trước năm 2014 (bao gồm 06 FTA trong khuôn khổ ASEAN và 02 FTA song phương với Nhật Bản (VJEPA) và với Chile (VCFTA) đều là các FTA truyền thống, với nội dung chủ yếu là loại bỏ thuế quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu giữa các thành viên.
- FTA thế hệ mới 10 FTA thế hệ mới Là các FTA được đàm phán, ký kết trong thời gian gần đây, có phạm vi rộng, mức độ tự do hóa mạnh.