đặt vấn đề, nêu lý do thực hiện đề tài nghiên cứu của mình cũng như cho thấy rằng đề tài nghiên cứu là cấp thiết trong thực tế hiện nay. Ngoài ra, nhóm tác giả đã nêu cụ thể mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu từ đó giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về nội dung, quá trình hình thành của đề tài, tạo cơ sở cho quá trình nghiên cứu và trình bày các chương tiếp theo tới độc giả. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm cơ bản 2.
Lý thuyết xuất khẩu Khái niệm xuất khẩu Theo Luật sư Tô Thị Phương Dung (2022) [1]: “ Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quá trình trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ làm môi giới. Đây không phải là việc thực hiện mua bán riêng lẻ mà là một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài. Xuất khẩu của doanh nghiệp là hoạt động bán hàng hóa và dịch vụ từ trong nước phục vụ nhu cầu của các nước ở bên ngoài lãnh thổ nước ta hoặc vùng lãnh thổ đặc biệt nhằm mục đích đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hay nói theo cách khác xuất khẩu là việc bán hàng hóa từ các tổ chức kinh tế, công ty trong nước cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài.” Căn cứ theo khoản 1 Điều 28 Luật Thương Mại số 36/2005/QH11 quy định "Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật." Dù được hiểu theo cách nào thì xuất khẩu cũng là một hình thức bán hàng cho nước ngoài để thu về lợi nhuận cho doanh nghiệp và quốc gia.
Các hình thức xuất khẩu Xuất khẩu trực tiếp Là hình thức xuất khẩu, trong đó người mua và người bán quan hệ trực tiếp với nhau (bằng cách gặp mặt, qua thư từ, điện tín) để bàn bạc thỏa thuận về hàng hóa, giá cả và các điều kiện giao dịch khác. Hình thức này có ưu điểm là doanh nghiệp có quyền tìm kiếm bạn hàng, định đoạt giá cả, lựa chọn phương thức thanh toán trong khuôn khổ chính sách quản lý xuất khẩu của Nhà nước. Do đó, tham gia vào hình thức này thường là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có uy tín và có đội ngũ nhân viên có chuyên môn cao. Tuy nhiên hình thức này sẽ không phù hợp với các doanh nghiệp mới, bởi vốn sản xuất và sự am hiểu về thị trường quốc tế của họ đều còn rất hạn chế, sản phẩm của họ cũng chưa được biết 6 đến nhiều, đòi hỏi người bán cần có sự nhanh nhạy về thông tin (thị trường, giá cả,hàng rào phi thuế quan.) Xuất khẩu gián tiếp Là hình thức mua bán trên phạm vi quốc tế được thực hiện nhờ sự giúp đỡ của nhân tố trung gian thứ ba và nhân tố này sẽ được hưởng một khoản tiền nhất định từ hoạt động mua bán trên.
Nhân tố trung gian phổ biến trong các giao dịch quốc tế là đại lý và môi giới. Hình thức này sẽ giúp cho các doanh nghiệp có thể tập trung vào sản xuất mà không cần phải quan tâm đến các vấn đề về kĩ thuật và pháp lí về xuất khẩu, hưởng lợi được từ kiến thức chuyên môn của người trung gian. Tuy nhiên, Doanh nghiệp sẽ bị hạn chế về quyền kiểm soát giá cả và thương hiệu sản phẩm trên toàn thế giới. Nếu lựa chọn sai đơn vị trung gian sẽ làm ảnh hưởng đến thương hiệu, sản phẩm và doanh thu.
Làm cản trở việc xuất khẩu của doanh nghiệp. Đây là hình thức được sử dụng khá phổ hiện nay tại các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ sử dụng vì các nhân tố trung gian thường hiểu biết rõ hơn về thị trường, hưởng lợi được từ kiến thức chuyên môn của người trung gian Hình thức tái xuất khẩu Là hình thức thực hiện xuất khẩu trở lại sang các nước mua khác những hàng hóa đã mua mà chưa qua chế biến ở nước tái xuất. Mục đích của thực hiện giao dịch tái xuất khẩu là mua hàng hóa ở nước này rồi bán với giá cao hơn ở nước khác và thu về số tiền lớn hơn số vốn đã bỏ ra ban đầu. Hoạt động tái xuất khẩu có thể chia làm hai hình thức: tạm nhập -tái xuất và chuyển khẩu, trong đó: Tạm nhập tái xuất - Đây là một hình thức tái xuất khẩu phổ biến tại Việt Nam, được hiểu là việc các thương nhân Việt Nam mua hàng của một quốc gia rồi đem bán cho quốc gia khác, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam rồi làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam.
Chuyển khẩu - là việc thương nhân Việt Nam mua hàng hóa của một nước để bán cho một nước khác mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và cũng không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt nam. Hàng hóa đi thẳng từ nước xuất khẩu sang bên nước nhập khẩu dưới sự điều hành của nước tái xuất khẩu. Có 3 hình thức để thực hiện phương thức chuyển khẩu bao gồm: - Hàng hóa vận chuyển luôn từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu theo đường thẳng tức không qua cửa khẩu Việt nam 7 - Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu qua cửa khẩu Việt Nam nhưng không làm thủ tục nhập khẩu hay xuất khẩu hàng hóa - Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam. Mỗi hình thức trên đều có những ưu nhược điểm riêng, tùy theo mục tiêu và quy mô năng lực sản xuất của từng doanh nghiệp mà lựa chọn hình thức phù hợp để mang lại hiệu quả cao nhất.
Vai trò của xuất khẩu Xuất khẩu có vai trò rất to lớn đối với kinh tế của một quốc gia, mang lại doanh thu lớn và nguồn ngoại tệ dồi dào qua đó gia tăng mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng gia tăng, xuất khẩu không chỉ là một phương tiện để mở rộng thị trường, mà còn là cầu nối giữa các quốc gia, tạo ra môi trường kinh doanh toàn cầu Thứ nhất, xuất khẩu góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, cải kiện cán cân thanh toán, ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định tỷ giá, kiểm soát lạm phát, tạo hiệu ứng lan tỏa thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm và thu nhập cho hàng triệu lao động và tạo động lực đổi mới sáng tạo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thứ hai, xuất khẩu mang lại nguồn thu nhập cho quốc gia thông qua việc bán sản phẩm và dịch vụ ra thị trường quốc tế. Việc này giúp tăng cường nguồn lực tài chính, hỗ trợ việc đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng như giáo dục, y tế, và phát triển cơ sở hạ tầng.
Thứ ba, xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và củng cố mối quan hệ quốc tế. Điều này giúp thúc đẩy hội nhập kinh tế và tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Theo thống kê của Bộ Công Thương, Việt Nam đã tham gia và đang đàm phán 17 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 15 FTA có hiệu lực và đang thực thi cam kết. Các FTA này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường lớn trên thế giới qua đó góp phần tăng cường hội nhập kinh tế của Việt Nam.
EVFTA Khái quát về hiệp định EVFTA “Hiệp định EVFTA hay còn được gọi là Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU, là thỏa thuận được kí kết giữa 28 nước thành viên liên minh châu Âu và Việt Nam. Không chỉ loại bỏ hơn 99% thuế hải quan đối với hàng hóa, hiệp định còn mở 8 cửa thị trường dịch vụ của Việt Nam cho các công ty EU và tăng cường bảo vệ các khoản đầu tư của EU vào Việt Nam.” (Lê Ngọc Hồng) [3] Hiệp định này sẽ mang lại lợi ích cho cả đôi bên đối với doanh nghiệp Việt Nam. Không chỉ có hoạt động kinh tế tăng cường từ các dự án đầu tư nước ngoài lớn hơn, mà các sản phẩm của các dự án này sẽ tiếp cận được tới nhu cầu của người tiêu dùng Châu Âu mà trước kia chưa tiếp cận được. Các quy định sức khỏe và an toàn rõ ràng liên quan tới xuất khẩu thực phẩm sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam ở mọi mức quy mô nắm được quá trình chính xác và vốn đầu tư cần có để tiếp cận thị trường Châu Âu.
Hiệp định EVFTA chính thức có hiệu lực từ ngày 1/8/2020, mở ra những cơ hội và triển vọng to lớn, đây cũng là thời điểm đặc biệt quan trọng của quan hệ đối tác hợp tác toàn diện Việt Nam-EU. Việc kết thúc đàm phán, ký kết và tiến tới phê chuẩn Hiệp định là một chặng đường dài với sự nỗ lực, cố gắng và quyết tâm của Việt Nam với mục tiêu nâng mối quan hệ thương mại song phương Việt Nam – Liên minh châu Âu lên một tầm cao mới. Đặc biệt, việc Hiệp định được hai bên ký kết và được Nghị viện châu Âu phê chuẩn có vai trò rất lớn của Quốc hội Việt Nam với việc ban hành các văn bản pháp luật cũng như tiến hành các hoạt động ngoại giao cần thiết và kịp thời để xử lý những vấn đề mà EU quan tâm. Lợi ích EVFTA mang lại cho Việt Nam Ba năm kể từ khi Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA) có hiệu lực, quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - EU vươn lên tầm cao mới, xuất khẩu nông sản Việt vào thị trường EU tăng trưởng đáng kể cả về chất và lượng, cơ cấu sản xuất ngành hàng.
Theo khảo sát của VCCI, tỷ lệ doanh nghiệp hiểu tương đối hoặc hiểu rõ về EVFTA cao hơn đáng kể so với các FTA khác. Số liệu của Bộ Công thương cho thấy, sau gần 3 năm thực thi Hiệp định EVFTA (từ ngày 1/8/2020 đến nay), Việt Nam đã xuất sang EU khoảng trên 120 tỷ USD hàng hóa. Trong đó, từ 1/8 đến 31/12/2020, xuất khẩu 15,62 tỷ USD, tăng 3,8% so cùng kỳ năm 2019. Năm 2021, xuất khẩu sang EU 40,12 tỷ USD, tăng 14,2%, xuất siêu 23,23 tỷ USD.