phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo,phụ lục. Bài nghiên cứu đƣợc kết cấu theo 4 chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp Chƣơng 3: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm nông sản xuất khẩu sang thị trƣờng Hàn Quốc của Công ty TNHH ATL Global Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm nông sản xuất khẩu sang thị trƣờng Hàn Quốc của Công ty TNHH ATL Global 8 CHƢƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP 2. Lý thuyết cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 2. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là một hiện tƣợng tất yếu, nó đƣợc dùng khá phổ biến trên mọi phƣơng diện kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, pháp luật, kinh doanh… Nó đƣợc các quốc gia đánh giá là yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển và đổi mới doanh nghiệp.
Các quan điểm về lý thuyết cạnh tranh rất đa dạng và phong phú. Một số khái niệm đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Theo nhà kinh tế học Michael Porter (1980): “Cạnh tranh, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các DN. Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là DN phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ, để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh.” Theo Từ điển Thuật ngữ Kinh tế học (NXB Từ điển Bách khoa, HN 2001 Trang 42): “Cạnh tranh - sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành đƣợc”.
Trong Đại Từ điển kinh tế thị trƣờng (Viện nghiên cứu và phổ biến trí thức Bách Khoa, HN 1998 trang 247) định nghĩa: “Cạnh tranh hữu hiệu là một phƣơng thức thích ứng với thị trƣờng của DN, mà mục đích là giành đƣợc hiệu quả hoạt động thị trƣờng làm cho ngƣời ta tƣơng đối thoả mãn, nhằm đạt đƣợc lợi nhuận bình quân vừa đủ để có lợi cho việc kinh doanh bình thƣờng và thù lao cho những rủi ro trong việc đầu tƣ, đồng thời hoạt động của đơn vị sản xuất cũng đạt đƣợc hiệu suất cao, không có hiện tƣợng quá dƣ thừa về khả năng sản xuất trong một thời gian dài, tính chất sản phẩm đạt trình độ hợp lý…” Giáo trình Kinh tế chính trị học Mác – Lênin (2002) định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất – kinh doanh với nhau, nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất – kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa hoặc dịch vụ để thu đƣợc nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục tiêu của cạnh 9 tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh”. Nhƣ vậy qua các khái niệm đã nêu ở trên ta có thể hiểu một cách đầy đủ: Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều kiện thu n lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế gi a các chủ thể khi tham gia thị trường.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là khái niệm có tầm quan trọng bậc nhất trong kinh tế học hiện đại, đƣợc xác định trong phạm vi từng quốc gia, từng ngành công nghiệp hoặc trong từng doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh là phƣơng pháp đo lƣờng giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành và có mối liên quan mật thiết với sự hiện diện của lợi thế cạnh tranh. Đầu những năm 1980, khái niệm NLCT đƣợc nêu ra ở Mỹ. Trong “Sách trắng về NLCT của Vƣơng quốc Anh”, Porter (1985, 1988) định nghĩa NLCT của một DN theo ba khía cạnh.
Một là, NLCT của DN là năng lực mở rộng thị phần, giữ vững thị phần và thu đƣợc nhiều lợi nhuận. Hai là, NLCT tƣơng đồng với năng suất lao động. Ba là, NLCT cũng chính là giữ vững và phát huy lợi thế cạnh tranh (LTCT). Trong một báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 1997 đã nêu ra: “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt đƣợc và duy trì mức tăng trƣởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tƣơng đối và các đặc trƣng kinh tế khác”.
Theo tổ chức này thì năng lực cạnh tranh của quốc gia đƣợc đo bằng tám chỉ tiêu: mức độ mở của nền kinh tế, vai trò của Nhà nƣớc, vai trò của thị trƣờng tài chính, môi trƣờng công nghệ, kết cấu hạ tầng, chất lƣợng quản trị kinh doanh, hiệu quả và tính linh hoạt của thị trƣờng lao động, môi trƣờng pháp lý. Theo định nghĩa của OECD, năng lực cạnh tranh biểu thị khả năng của mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành công nghiệp, mỗi khu vực, quốc gia hoặc các tổ chức xuyên quốc gia trong việc đƣơng đầu với sự cạnh tranh trên trƣờng quốc tế và đảm bảo tính bền vững của tỷ suất lợi nhuận trên yếu tố đầu vào và tỉ lệ tuyển dụng cao. Trong dài hạn, cải thiện năng lực cạnh tranh góp phần gia tăng tổng sản lƣợng. Nâng cao năng 10 suất sản xuất có tầm quan trọng đặc biệt giúp cạnh tranh thành công hơn trên thƣơng trƣờng, cải thiện chất lƣợng cuộc sống và tạo thêm nhiều việc làm về lâu dài.
Ngoài ra, năng suất sản xuất cao còn phản ánh khả năng sử dụng hiệu quả các lợi thế cạnh tranh trong khi các nguồn lực tự nhiên ngày càng khan hiếm và tình hình cạnh tranh toàn cầu ngày càng trở nên khốc liệt hơn (Thống kê cấu trúc công nghiệp của OECD, 1994). OECD còn nhấn mạnh rằng, năng lực cạnh tranh là khả năng sử dụng các yếu tố sản xuất nhằm tạo ra doanh thu cao và bền vững, việc tham gia vào môi trƣờng cạnh tranh quốc tế góp phần mang lại tỉ lệ việc làm cao hơn (Toàn cầu hóa và năng lực cạnh tranh của OECD, 1996). Hay có thể định nghĩa năng lực cạnh tranh theo cộng đồng cạnh tranh quốc gia (NCC) nhƣ sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng đạt được thành công trên thị trường trong việc nâng cao tiêu chuẩn sống cho mọi người, bắt nguồn từ m c độ cạnh tranh của công ty và môi trường kinh doanh cho phép và khuyến khích sự đổi mới, đầu tư góp phần mạnh mẽ vào việc tăng năng suất, tăng m c thu nh p thực tế và tạo nên sự phát triển bền v ng. Các cấp độ của cạnh tranh Năng lực cạnh tranh có thể đƣợc phân biệt thành ba cấp độ: cấp quốc gia, cấp ngành, và cấp doanh nghiệp.
Có thể nói ba cấp độ của năng lực cạnh tranh mặc dù có sự độc lập tƣơng đối nhƣng giữa ba cấp độ năng lực cạnh tranh vẫn tồn tại mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau và đƣợc mô tả qua hình dƣới.1: Ba cấp độ năng lực cạnh tranh 11 ❖ Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia Scott và Lodge (1985) định nghĩa năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng của một quốc gia tạo ra, sản xuất, phân phối các sản phẩm, dịch vụ trên thị trƣờng quốc tế và thu đƣợc nguồn lợi tăng lên từ các nguồn lực của nó. Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) tiếp cận khái niệm này cụ thể hơn dựa trên các trụ cột của một quốc gia:“Năng lực cạnh tranh quốc gia là một hệ thống các thể chế, chính sách, quy định tạo nên m c sản lượng của một quốc gia. Nói cách khác, một nền kinh tế cạnh tranh thì có xu hướng có thể đem tới m c thu nh p cao h n cho các công dân của mình, tỷ lệ tái đầu tư lớn h n và do đó có thể phát triển nhanh h n trong tư ng lai trung và dài hạn”. Năng lực cạnh tranh của một quốc gia sẽ ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nƣớc đó.
Vì vậy, năng lực cạnh tranh quốc gia cũng tác động đến năng lực cạnh tranh ngành thông qua tác động đến các doanh nghiệp trong nƣớc của ngành; thêm vào đó tác động đến thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài – thứ mà sau cùng cũng tác động đến năng lực cạnh tranh của những ngành thu hút đƣợc đầu tƣ nƣớc ngoài. Theo Asia Development Outlook 2003, năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng cạnh tranh của một nƣớc để sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng đƣợc thử thách của thị trƣờng quốc tế. Đồng thời, duy trì và mở rộng đƣợc thu nhập thực tế của công dân nƣớc đó. Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của một nƣớc để tạo ra việc sản xuất sản phẩm, phân phối sản phẩm và dịch vụ trong thƣơng mại quốc tế, trong khi kiếm đƣợc thu nhập tăng lên từ nguồn lực của nó.
Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 1997, thì năng lực cạnh tranh quốc gia đƣợc hiểu là “s c mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô, đó là năng lực của một nền kinh tế đạt được và duy trì m c tăng trưởng bền v ng, thu hút đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế xã hội, nâng cao đời sống người dân trên c sở xác định các chính sách, thể chế bền v ng tư ng đối và các đặc trưng kinh tế khác”. Và đƣợc đo bằng tám chỉ tiêu: mức độ mở của nền kinh tế, vai trò của Nhà nƣớc, vai trò của thị trƣờng tài chính, môi trƣờng công nghệ, kết cấu hạ tầng, chất lƣợng quản trị kinh doanh, hiệu quả và tính linh hoạt của thị trƣờng lao động, môi trƣờng pháp lý. ❖ Năng lực cạnh tranh cấp ngành Cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tƣ có lợi hơn và kết quả là tạo nên tỷ 12 suất lợi nhuận bình quân và giá trị sản xuất. Năng lực cạnh tranh cấp ngành thƣờng đƣợc dùng cho ngành sản xuất trong phạm vi một quốc gia, thể hiện khả năng của một ngành trong việc đƣơng đầu với các thách thức phát sinh từ các đối thủ cạnh tranh nƣớc ngoài (IMD, 2004).