Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Phát triển bền vững là xu thế toàn cầu và định hướng chiến lược dài hạn của Việt Nam, đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa ba trụ cột: kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Hoạt động thương mại và xuất khẩu giữ vai trò động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, gia tăng dự trữ ngoại tệ và tạo việc làm; tuy nhiên, mô hình tăng trưởng xuất khẩu truyền thống thường bộc lộ những hạn chế như thâm dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm sinh thái và nảy sinh nhiều bất cập trong phân phối thu nhập xã hội.

Việt Nam có nền văn minh lúa nước lâu đời, trong đó cây lúa và hạt gạo là sản phẩm lương thực thiết yếu nhất đối với đời sống nhân dân. Kể từ mốc bắt đầu xuất khẩu gạo vào năm 1989, Việt Nam đã vươn lên thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, chiếm khoảng 15% thị phần toàn cầu và có mặt tại hơn 120 quốc gia, vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, việc tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu để duy trì thứ hạng về sản lượng trước mắt không còn đủ để bảo đảm tính bền vững. Ngành hàng lúa gạo Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức lớn: giá trị gia tăng thấp, phẩm cấp gạo chưa cao, chuỗi cung ứng qua nhiều khâu trung gian, thu nhập của nông dân trồng lúa chưa tương xứng, cùng với áp lực từ gia tăng dân số và nguy cơ nước biển dâng do biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài "Đảm bảo xuất khẩu bền vững mặt hàng gạo của Việt Nam" được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển bền vững và xuất khẩu bền vững, xác định hệ thống tiêu chí đánh giá xuất khẩu bền vững trên cả 3 phương diện: kinh tế, xã hội và môi trường.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 1989 - 2009, làm rõ các thành tựu đạt được cũng như những yếu kém, hạn chế theo các tiêu chí bền vững.
  3. Làm rõ quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy xuất khẩu gạo Việt Nam phát triển bền vững đến năm 2020.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu bền vững mặt hàng gạo của Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Hoạt động sản xuất và xuất khẩu lúa gạo trên phạm vi cả nước, trọng tâm tại hai vựa lúa lớn là Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng.
    • Thời gian: Phân tích thực trạng từ khi Việt Nam bắt đầu tham gia xuất khẩu gạo năm 1989 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2009 - đầu năm 2010), định hướng giải pháp đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm

  • Lý thuyết phát triển bền vững: Đề tài tiếp cận khái niệm phát triển bền vững từ "Chiến lược bảo tồn Thế giới" (1980) của IUCN, UNEP, WWF và Báo cáo Brundtland (1987) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED): "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai". Khái niệm này được củng cố qua Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất tại Rio de Janeiro (1992) và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới tại Johannesburg (2002), xác lập ba trụ cột không thể tách rời: bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường.
  • Lý thuyết xuất khẩu bền vững: Xuất khẩu bền vững được định nghĩa là việc duy trì nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu cao và ổn định, chất lượng tăng trưởng xuất khẩu ngày càng được nâng cao, góp phần tăng trưởng và ổn định kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Nội hàm bao gồm mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa trên lợi thế cạnh tranh về công nghệ, quản lý, nâng cao giá trị gia tăng và tiết kiệm tài nguyên.
  • Hệ thống tiêu chí đánh giá xuất khẩu bền vững:
    • Bền vững kinh tế: Quy mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu; chất lượng tăng trưởng (cơ cấu chủng loại, mức độ chế biến, cơ cấu thị trường, hạ tầng dịch vụ logistics); mức độ đóng góp vào GDP và an toàn tài chính quốc gia.
    • Bền vững xã hội: Mức độ đóng góp vào xóa đói giảm nghèo; giải quyết việc làm; nâng cao thu nhập và mức sống dân cư; bảo vệ sức khỏe và an toàn lao động (tiêu chuẩn HACCP, SA 8000); bảo đảm công bằng trong phân chia lợi ích giữa nông dân, thương lái và doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu.
    • Bền vững môi trường: Mức độ ô nhiễm đất, nước, không khí từ sản xuất lúa; mức độ thâm dụng tài nguyên đất và nước; mức độ áp dụng tiêu chuẩn quản lý môi trường quốc tế (ISO 14000); mức độ đóng góp công nghệ và tài chính cho công tác bảo vệ môi trường sinh thái.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp các phương pháp nghiên cứu kinh tế cụ thể: phương pháp thống kê mô tả, phân tích kinh tế, so sánh đối chiếu chuỗi số liệu theo thời gian và phương pháp tổng hợp tài liệu.
  • Nguồn dữ liệu: Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), Tổng cục Hải quan, Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT (dữ liệu AGRODATA/AGROINFO), Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), Ngân hàng Thế giới (WB) và các tài liệu chuyên môn do Ban Nghiên cứu Thị trường thuộc Viện Nghiên cứu Thương mại cung cấp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Sự cần thiết phải đảm bảo xuất khẩu bền vững mặt hàng gạo

Chương 1 thiết lập khung lý luận nền tảng và phân tích tầm quan trọng của việc xuất khẩu gạo bền vững đối với nền kinh tế và xã hội Việt Nam:

  1. Vấn đề an ninh lương thực toàn cầu và quốc gia:
    • Theo Báo cáo đói nghèo năm 2009 của FAO, thế giới có khoảng 1,02 tỷ người bị đói (tăng gần 100 triệu người so với mức 963 triệu người năm 2008), tập trung phần lớn tại Châu Á - Thái Bình Dương (64%) và Châu Phi cận Sahara (26%). Nhu cầu sản xuất lương thực toàn cầu dự báo phải tăng gấp đôi vào năm 2050 để nuôi sống 9 tỷ người.
    • Tại Việt Nam, dù sản lượng lúa giai đoạn 2001 - 2007 đạt bình quân gần 35 triệu tấn/năm và xuất khẩu bình quân hơn 4,2 triệu tấn/năm (kim ngạch 1,1 tỷ USD/năm), nguy cơ mất an ninh lương thực cục bộ vẫn hiện hữu. Cả nước còn 6,7% số hộ thiếu lương thực (khu vực nông thôn là 8,7% và thành thị là 2,2%).
    • Áp lực tăng quy mô dân số (dự báo đạt 100 triệu người vào năm 2020) và tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đặt ra thách thức lớn: nếu mực nước biển dâng cao 1m, ước tính có khoảng 12.300 km² (tương đương 32% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long) sẽ bị ngập lụt, bao gồm gần 10.000 km² đất trồng lúa và nuôi trồng thủy sản.
  2. Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội: Xuất khẩu gạo tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng, đóng góp trực tiếp vào GDP, tạo lập việc làm ổn định cho lực lượng lao động nông nghiệp (chiếm 70% dân số), hạn chế làn sóng di cư tự do từ nông thôn ra thành thị và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa.
  3. Bảo vệ môi trường sinh thái nông nghiệp: Việc mở rộng diện tích và thâm canh tăng vụ thiếu kiểm soát làm cạn kiệt độ phì nhiêu của đất, gia tăng dư lượng hóa chất độc hại từ phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật. Xuất khẩu bền vững định hướng ngành trồng lúa áp dụng công nghệ sinh học, cơ chế quản lý dịch hại tổng hợp và các biện pháp canh tác thân thiện với hệ sinh thái.

Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng xuất khẩu bền vững mặt hàng gạo của Việt Nam trong thời gian qua

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng sản xuất, diễn biến xuất khẩu và đánh giá toàn diện tính bền vững của ngành hàng lúa gạo Việt Nam qua các mốc số liệu thực tế:

1. Thực trạng sản xuất lúa gạo

Sản xuất lúa trải qua các giai đoạn phát triển: giai đoạn 1979 - 1989 diện tích duy trì 5,4 - 5,8 triệu ha với sản lượng tối đa 18 triệu tấn; giai đoạn 1990 - 1999 diện tích tăng mạnh lên đỉnh điểm 7,66 triệu ha (1999) và sản lượng năm 1998 lần đầu vượt 30 triệu tấn. Giai đoạn 2000 - 2009, diện tích có xu hướng thu hẹp nhẹ do quá trình đô thị hóa và chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nhưng năng suất liên tục tăng giúp sản lượng duy trì đà tăng trưởng.

Năm Diện tích (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn) Năng suất (tấn/ha)
2000 7.666,3 32.529,5 4,24
2001 7.492,7 32.108,4 4,29
2002 7.504,3 34.447,2 4,59
2003 7.452,2 34.568,8 4,64
2004 7.445,3 36.148,9 4,86
2005 7.329,2 35.832,9 4,89
2006 7.324,8 35.849,5 4,89
2007 7.207,4 35.942,7 4,99
2008 7.399,6 38.630,0 5,29
2009 7.440,1 38.900,0 5,23

Nguồn: Tổng cục Thống kê và Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch ngành nông nghiệp và PTNT (2008 - 2009)

Năm 2008, Đồng bằng sông Hồng có diện tích canh tác 1,15 triệu ha đạt năng suất 5,88 tấn/ha; Đồng bằng sông Cửu Long đạt diện tích 3,86 triệu ha với năng suất 5,36 tấn/ha. Theo thống kê của USDA, sản lượng lúa gạo Việt Nam chiếm 5 - 6% tổng sản lượng toàn cầu, xếp thứ 5 trên thế giới.

2. Tình hình xuất khẩu gạo

  • Kim ngạch và sản lượng: Từ mốc 1,37 triệu tấn (310 triệu USD) năm 1989, lũy kế đến năm 2009 Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 70 triệu tấn gạo, đạt tổng giá trị gần 20 tỷ USD. Năm 2005 xuất khẩu đạt 5,2 triệu tấn (gần 1,3 tỷ USD); năm 2007 đạt 4,54 triệu tấn (vượt 1 tỷ USD); năm 2008 đạt 4,7 triệu tấn; và năm 2009 xác lập mức kỷ lục 6,053 triệu tấn với kim ngạch 2,464 tỷ USD.
  • Diễn biến giá cả:
    • Giá xuất khẩu bình quân tăng từ 269 USD/tấn (năm 2005) lên 275 USD/tấn (năm 2006) và 295 USD/tấn (năm 2007). Tháng 9/2007, gạo loại 25% tấm của Việt Nam trúng thầu ở mức 350 USD/tấn, cao hơn mức 342 USD/tấn của Thái Lan.
    • Năm 2008 thị trường giá biến động đột biến: từ 370 USD/tấn (tháng 2/2008) tăng vọt lên 1.000 USD/tấn (tháng 4 - 5/2008), sau đó giảm sâu vào cuối năm (loại 5% tấm còn 523 USD/tấn, loại 25% tấm còn 406 USD/tấn).
    • Năm 2009 giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh so với 2008: gạo 5% tấm đạt 424 USD/tấn (giảm 32,8%), gạo 25% tấm đạt 375 USD/tấn (giảm 34,7%). Trong đó, thị trường Philippines nhập khẩu gạo Việt Nam với giá bình quân cao nhất (541,24 USD/tấn), Malaysia đạt 439,24 USD/tấn, trong khi các thị trường khác dao động quanh 400 USD/tấn.
  • Cơ cấu phẩm cấp và thị trường:
    • Chất lượng gạo xuất khẩu vẫn tập trung chủ yếu ở phân khúc cấp thấp; chủng loại gạo 25% tấm chiếm khoảng 70% tổng lượng xuất khẩu, trong khi gạo chất lượng cao (5% tấm) chỉ chiếm hơn 30%.
    • Thị trường xuất khẩu mở rộng từ 63 quốc gia (năm 2007) lên 128 quốc gia và vùng lãnh thổ (năm 2008). Khu vực Châu Á chiếm tỷ trọng chủ đạo (61,68% tổng kim ngạch năm 2009), dẫn đầu là Philippines (chiếm 35% kim ngạch cả nước, khối lượng gần 1,7 triệu tấn, trị giá trên 912 triệu USD), Malaysia (10,22%), Cuba (7,17%), Singapore (5,02%). Châu Phi chiếm 22% kim ngạch xuất khẩu năm 2008.

3. Đánh giá tính bền vững và những điểm nghẽn hạn chế

Tiêu chí bền vững Thành tựu đạt được Hạn chế, yếu kém tồn tại
Bền vững kinh tế - Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng bình quân gần 28%/năm (2001 - 2008).
- Đóng góp 1,97% - 2,94% vào GDP và chiếm 13,41% - 17,86% tổng kim ngạch xuất khẩu nông - lâm - thủy sản cả nước.
- Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, nông dân thiếu năng lực đàm phán giá.
- Kênh lưu thông qua nhiều tầng nấc trung gian (thương lái), thiếu điều phối.
- Yếu kém trong xây dựng thương hiệu, đóng gói và nhãn mác thương mại.
- Tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch cao (11 - 12%); hệ thống lò sấy vụ hè thu tại ĐBSCL mới đáp ứng 40%; khâu chế biến mới tạo ra 19 - 20% giá trị gia tăng (so với 26% của Thái Lan); 70% giống lúa phục vụ sản xuất vẫn phải nhập khẩu.
Bền vững xã hội - Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; sản lượng lúa bình quân đầu người tăng từ 414 kg lên 442 kg (1999 - 2008).
- Tạo việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho hàng triệu hộ nông dân.
- Tỷ lệ hộ thiếu đói cục bộ vẫn còn 6,7% (nông thôn 8,7%).
- Nông dân trực tiếp sản xuất là đối tượng chịu thiệt thòi nhất, nhận tỷ lệ phân chia lợi nhuận thấp nhất trong chuỗi giá trị so với khâu trung gian và doanh nghiệp xuất khẩu.
Bền vững môi trường - Bước đầu hình thành các mô hình canh tác cải tiến ("3 giảm 3 tăng", lúa lai - tôm sú). - Thâm canh tăng vụ gây suy thoái độ phì nhiêu của đất đai.
- Lạm dụng phân bón vô cơ và hóa chất bảo vệ thực vật gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường sinh thái đồng ruộng.

Dưới đây là bảng tổng hợp mức độ đóng góp của xuất khẩu gạo vào nền kinh tế:

Chỉ tiêu 2000 2005 2007 2008
GDP (triệu USD) 31.170,0 52.800,0 68.640,0 90.700,0
Kim ngạch XK nông - lâm - thủy sản (triệu USD) 4.197,5 7.452,4 10.963,4 14.910,1
Kim ngạch xuất khẩu gạo (triệu USD) 615,58 1.279,27 1.470,00 2.663,00
Tỷ lệ trong XK nông - lâm - thủy sản (%) 14,67 17,17 13,41 17,86
Tỷ lệ trong GDP (%) 1,97 2,42 2,14 2,94

Nguồn: Ngân hàng Thế giới (WB), Tổng cục Thống kê (2009) và Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA)

Chương 3: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp đảm bảo xuất khẩu bền vững mặt hàng gạo của Việt Nam

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, chương 3 trình bày các định hướng và giải pháp trọng tâm:

  1. Quan điểm và mục tiêu phát triển: Quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và phát triển bền vững. Chuyển dịch định hướng xuất khẩu từ số lượng đơn thuần sang nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia vững chắc trong mọi tình huống trước mắt và lâu dài đến năm 2020.
  2. Hệ thống giải pháp kinh tế - kỹ thuật nhằm tăng trưởng xuất khẩu chất lượng cao:
    • Quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu: Quy hoạch vùng sản xuất lúa chuyên canh chất lượng cao tại Đồng bằng sông Cửu Long; đẩy mạnh nghiên cứu, chọn tạo giống lúa thuần và lúa lai chất lượng cao nhằm giảm sự phụ thuộc vào nguồn giống nhập khẩu.
    • Nâng cấp công nghệ bảo quản, chế biến sau thu hoạch: Đầu tư phát triển hệ thống máy sấy lúa cơ giới hóa tại ĐBSCL nhằm giải quyết triệt để tình trạng hư hỏng lúa vụ hè thu; xây dựng hệ thống kho chứa đạt chuẩn và các nhà máy xay xát, đánh bóng gạo hiện đại để giảm tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch xuống dưới mức 10%.
    • Xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường: Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu gạo quốc gia; cải tiến bao bì, quy cách đóng gói; nâng cao năng lực dự báo thị trường của các viện nghiên cứu và Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA); đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, từng bước thâm nhập sâu vào các thị trường có yêu cầu phẩm cấp cao.
  3. Hệ thống giải pháp xã hội: Hoàn thiện cơ chế thu mua lúa hàng hóa thông qua hợp đồng trực tiếp giữa doanh nghiệp và nông dân nhằm loại bỏ bớt các tầng nấc trung gian; thực hiện chính sách giá sàn thu mua bảo đảm người nông dân có lãi tối thiểu 30% so với giá thành sản xuất; tăng cường hệ thống khuyến nông cấp cơ sở.
  4. Hệ thống giải pháp môi trường: Đẩy mạnh áp dụng rộng rãi các mô hình canh tác tiên tiến ("3 giảm 3 tăng", "1 phải 5 giảm", lúa - tôm); kiểm soát chặt chẽ việc kinh doanh và sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hóa học; triển khai các giải pháp công trình và phi công trình nhằm chủ động thích ứng với tình trạng nước biển dâng và xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu tại vùng đồng bằng châu thổ.
  5. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế: Đề tài phân tích phụ lục kinh nghiệm quản lý chuỗi giá trị và kiểm soát tiêu chuẩn chất lượng gạo thơm Jasmine của Thái Lan để rút ra bài học cho ngành lúa gạo Việt Nam.

Kết quả và đóng góp của đề tài

  • Hệ thống hóa số liệu thực chứng: Công trình đã tổng hợp chi tiết và toàn diện bức tranh ngành lúa gạo Việt Nam giai đoạn 1989 - 2009 với các mốc dữ liệu quan trọng (sản lượng chạm mốc 38,9 triệu tấn năm 2009; khối lượng xuất khẩu lập đỉnh 6,053 triệu tấn trị giá 2,464 tỷ USD năm 2009; kim ngạch đóng góp tới 2,94% GDP năm 2008).
  • Đánh giá đa chiều theo mô hình 3 trụ cột: Khác với các nghiên cứu thương mại thuần túy chỉ tập trung vào kim ngạch và thị trường, đề tài đã phân tích xuất khẩu gạo gắn kết hữu cơ với an ninh lương thực quốc gia, bài toán phân chia lợi ích chuỗi giá trị cho người nông dân (bền vững xã hội) và tác động của biến đổi khí hậu, thâm canh đất đai (bền vững môi trường).
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn của chuỗi giá trị: Nhận diện cụ thể tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch (11 - 12%), năng lực lò sấy vụ hè thu ĐBSCL (mới đạt 40%), tỷ trọng giá trị gia tăng khâu chế biến (19 - 20%) và thực trạng phụ thuộc 70% nguồn giống nhập khẩu, làm căn cứ thực tiễn cho hệ thống giải pháp đề xuất.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế của đề tài: Chuỗi dữ liệu phân tích dừng lại ở thời điểm năm 2009 và các tháng đầu năm 2010; các phân tích về tác động môi trường chủ yếu sử dụng phương pháp định tính và thống kê mô tả, chưa lượng hóa bằng các mô hình kinh tế lượng hoặc ma trận tính toán lượng phát thải khí nhà kính từ đồng ruộng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Nghiên cứu ứng dụng mô hình định lượng đánh giá tác động của các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến diện tích, năng suất lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
    • Nghiên cứu mô hình liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại (liên kết 4 nhà: Nhà nước - Nhà nông - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp) và giải pháp phát triển logistics chuyên dụng phục vụ ngành hàng lúa gạo xuất khẩu.

Giá trị tham khảo và ứng dụng thực tiễn

  • Đối tượng tham khảo: Tài liệu là nguồn tư liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Thương mại quốc tế, Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn khi nghiên cứu về thương mại nông sản và phát triển bền vững.
  • Phần nội dung có giá trị cao: Hệ thống bảng số liệu thống kê về diện tích, sản lượng, giá cả, thị trường xuất khẩu gạo giai đoạn 2000 - 2009 và phần phân tích cơ cấu chuỗi giá trị, hạn chế sau thu hoạch trong Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Vị thế của sản lượng và xuất khẩu lúa gạo Việt Nam trên thế giới tại thời điểm nghiên cứu như thế nào?
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) và Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) nêu trong văn bản, Việt Nam đứng thứ 5 thế giới về sản lượng sản xuất lúa gạo (chiếm 5 - 6% tổng sản lượng toàn cầu) và duy trì vị trí quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới sau Thái Lan, chiếm khoảng 15% thị phần gạo xuất khẩu toàn cầu với thị trường tại hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ.

2. Tỷ trọng đóng góp của kim ngạch xuất khẩu gạo vào GDP và tổng kim ngạch xuất khẩu nông - lâm - thủy sản Việt Nam giai đoạn 2000 - 2008 là bao nhiêu?
Theo số liệu Bảng 2.5 trong văn bản, tỷ trọng đóng góp của kim ngạch xuất khẩu gạo vào GDP dao động từ 1,97% (năm 2000) lên 2,42% (năm 2005), đạt 2,14% (năm 2007) và 2,94% (năm 2008). Trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông - lâm - thủy sản, xuất khẩu gạo đóng góp 14,67% (năm 2000), 17,17% (năm 2005), 13,41% (năm 2007) và đạt đỉnh 17,86% (năm 2008).

3. Cơ cấu phẩm cấp gạo xuất khẩu của Việt Nam có đặc điểm gì nổi bật?
Chủng loại gạo xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu vẫn là gạo cấp thấp, trong đó loại gạo tỷ lệ 25% tấm chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 70% tổng lượng gạo xuất khẩu). Ngược lại, chủng loại gạo phẩm cấp cao (5% tấm) chỉ chiếm hơn 30% tổng lượng xuất khẩu của cả nước.

4. Những hạn chế kỹ thuật lớn nhất trong khâu sau thu hoạch và chế biến lúa gạo tại Việt Nam được tác giả chỉ ra là gì?
Văn bản chỉ rõ: có tới 80% lượng thóc được xay xát, chế biến tại các cơ sở quy mô nhỏ lẻ; năng lực máy sấy tại ĐBSCL chỉ đáp ứng được 40% sản lượng lúa vụ hè thu; tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch ở mức cao (11 - 12%); giá trị gia tăng từ khâu chế biến chỉ đóng góp 19 - 20% cho mỗi tấn gạo (thấp hơn nhiều so với mức 26% của Thái Lan); và cả nước vẫn phải nhập khẩu tới 70% lượng giống lúa cho sản xuất.

5. Nguy cơ biến đổi khí hậu đe dọa vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long được số liệu trong đề tài cảnh báo ra sao?
Đề tài dẫn báo cáo khoa học cho biết nếu mực nước biển dâng thêm 1m, ước tính sẽ có khoảng 12.300 km² (chiếm 32% diện tích tự nhiên của Đồng bằng sông Cửu Long) bị ngập nước, trong đó bao gồm gần 10.000 km² đất chuyên canh sản xuất lúa và nuôi trồng thủy sản, đe dọa trực tiếp nguồn cung ứng 80% sản lượng lúa xuất khẩu của cả nước.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về xuất khẩu bền vững và ứng dụng đánh giá thực trạng ngành lúa gạo Việt Nam trong giai đoạn 1989 - 2009. Công trình làm rõ thành tựu đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn cố hữu về cơ cấu phẩm cấp thấp, chuỗi cung ứng nhiều khâu trung gian, thất thoát sau thu hoạch cao và nguy cơ từ biến đổi khí hậu. Hệ thống giải pháp đề xuất đã bám sát định hướng phát triển cân bằng ba trụ cột kinh tế, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái nông nghiệp đến năm 2020.